|
Những khuyết điểm cá nhân của Nixon và Kissinger ảnh hưởng đến cách làm chính sách đối ngoại của họ. Sự cố gắng của Nixon để tái trúng cử, điều mà ông cho là đồng nghĩa với tột đỉnh sự nghiệp tổng thống và tham vọng của Kissinger trở thành một cố vấn an ninh quốc gia, một ngoại trưởng hữu hiệu và đáng nhớ nhất trong lịch sử đã làm sai lạc những nhận xét của họ và đem lại những quyết định tệ hại khi đối phó với Việt Nam, Ấn Độ-Pakistan, và Chí Lợi. Cơn bốc đồng không khôn ngoan cộng với sự đồng lõa của Kissinger khi dùng ngoại giao để bù đắp cho tai tiếng Watergate là một hậu quả tiêu cực khác gây ra bởi khuynh hướng chung của hai người là lo cho mình trước tiên. Một tổng thống không bị mang tiếng nặng nề ảnh hưởng đến óc suy xét về quan hệ quốc tế mới có thể suy nghĩ mạch lạc về quyền lợi quốc gia. Lòng mong muốn đạt đến trọng vọng của Nixon và Kissinger cũng có những đức tính của nó. Những động lực tự kiêu tự đại cùng với những quan tâm về an ninh quốc gia đã khích lệ mở rộng quan hệ với Trung Quốc, hòa hoãn với Nga Xô, kiểm soát vũ khí, và chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Đương nhiên, cái thành quả sau cùng kể trên khó có thể là một chiến thắng hoàn toàn, nhưng dứt khoát kết thúc sự lâm chiến của Mỹ ở Đông Nam Á là điều cần thiết cho phúc lợi quốc gia lâu dài. Thành tích về chính sách đối ngoại của Nixon và Kissinger cũng mờ ảo giống như hai ông. Những tài liệu công và tư chứng tỏ một cách rõ ràng là chính trị trong nước Mỹ luôn luôn đóng vai trò then chốt cho những quyết định về chính sách đối ngoại của hai người, sự bảo đảm tái trúng cử tổng thống của Nixon chưa bao giờ được tách rời khỏi những cân nhắc làm sao đương đầu với thử thách quốc ngoại. Hai mươi bẩy tháng đầu dưới thời Nixon là lúc chính phủ lúng túng hầu như trong mọi vấn đề quốc ngoại, nhất là Việt Nam. Chỉ cho đến mùa xuân năm 1971 mới thấy những kết quả quan trọng khi Nixon và Kissinger đạt đến những thay đổi lớn trong quan hệ ngoại quốc. Trung Cộng đứng đầu danh sách thắng lợi. Hầu như tất cả đều đồng ý rằng mở rộng cửa cho Trung Cộng là một hành động chính trị khôn ngoan. Vì nhận thức rằng thành quả này là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử ngoại giao cận đại hoa Kỳ, Nixon và Kissinger tranh nhau tiếng tăm xem ai là người tiên phong chính sách này. Mặc dù Nixon là kiến trúc sư chính trong sự tiếp cận với Trung Cộng, Kissinger mới là công cụ hữu hiệu trong thiết kế của ông. Tuy vậy, chẳng cần biết vai trò tương ứng của họ, chính sách đó được khen tụng không những là một bước tiến ra khỏi hơn hai thập niên căng thẳng đe dọa hòa bình thế giới, mà còn là một dụng cụ để ép Liên Xô vào những quan hệ trong tinh thần hợp tác với phương Tây. Nixon và Kissinger đem đến sự hoà hoãn giữa Hoa Kỳ và Nga Xô cũng sinh ra nhiều tranh luận hơn. Những người bảo thủ lúc nào cũng thù hằn với chính sách của hai ông vì họ tin rằng, trên con đường đi tìm hòa bình, không thể trông cậy vào Moscow, hoặc sự quan tâm của Moscow về chung sống hòa bình chỉ là một trò đánh lừa để làm Tây phương yếu đi. Trong thập niên 1980, những người tân bảo thủ rất hài lòng khi TT Reagon gọi Liên Xô là một “đế quốc tội lỗi,” và họ còn thoả mãn hơn nữa với sự xụp đổ của chính thể cộng sản ở Đông Âu và Moscow. Câu “Reagan thắng Chiến Tranh Lạnh” không những là lời tán dương cho thời TT Reagan mà còn là một lý lẽ chống lại sự khôn ngoan của hoà hoãn. Đúng, Reagan đáng được hưởng công trạng quan sát sự sụp đổ của uy quyền Liên Xô, nhưng nếu nói là ông thắng Chiến Tranh Lạnh thì vô tình bỏ sót những đóng góp lớn hơn của ngăn chặn và hòa hoãn để kết thúc một cách thành công cuộc thi đua 43 năm với chủ nghĩa cộng sản. Nói cho cùng, chính ra những khuyết điểm xâu xa của hệ thống chủ nghĩa cộng sản đã chôn vùi chính nó: sự bất chấp không đếm xỉa đến những tự do cá nhân và cái bất lực để xây dựng một nền kinh tế tiêu thụ trong một xã hội cống hiến quá nhiều tài nguyên của nó cho chiến tranh. Liên Xô đã tạo ra một tiếng tăm xứng đáng như là một anh khổng lồ không thi hành nổi những lời hứa và rốt cuộc bỏ rơi các nước anh em khắp nơi. Chính chiến lược Harry Truman-George Kennan về cản trở và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản cho đến khi những mâu thuẫn bản chất tự phá hủy chính nó là chính sách trường kỳ của Hoa Kỳ đem đến sự sụp đổ của Nga Sô. Điều quan trọng không kém là sự cởi mở của Nga Sô đối với ảnh hưởng Tây Phương qua hòa hoãn đã làm hao mòn sự kềm kẹp của chủ nghĩa cộng sản trên dân chúng trong nước và ngoại quốc. Những trao đổi văn hóa và kinh tế với Hoa Kỳ đã trọc thủng Bức Màn Sắt và làm cho sự cô lập dân chúng Nga Sô không thể tiếp tục được nữa. Hòa hoãn không chấm dứt Chiến Tranh Lạnh, nhưng cùng lúc với chính sách ngăn chặn và cản trở chủ yếu của Hoa Kỳ từ thời Truman cho đến Reagan, nó đã khai mào một chuyển động đưa đến đơm bông kết trái dưới thời Mikhail Gorbachev vào cuối thập niên 1980. Kissinger đáng được Giải Nô Ben Hòa Bình vì những thương thuyết về Trung Đông hơn là những gì ông làm ở Việt Nam. Ông tả vấn đề Việt Nam là sự thất vọng lớn lao nhất cho thời TT Nixon. Nhưng nó còn tệ hơn là thất vọng; nó là thất bại xiểng niểng. Ngay từ lúc khởi đầu nhiệm kỳ, Nixon và Kissinger đặt ưu tiên hàng đầu là chấm dứt chiến tranh trước khi kết thúc nhiệm kỳ đầu. Họ hiểu rằng nếu còn nhiều quân ở lại Việt Nam trong số 545,000 quân vào năm 1972 với tiếp tục tổn thất sinh mạng người Mỹ, điều đó sẽ làm nguy hiểm đến cơ hội tái trúng cử của Nixon. Giải pháp của họ - chương trình Việt Nam hóa – là một tấm lá sung che dấu thất bại của Hoa Kỳ. Vì nhất định rút quân mà không đem đến sự sụp đổ của MNVN, Bạch Ốc thay phiên hành động quân sự nối rộng giữa xua quân qua Cam Bốt, thả bom ồ ạt ở MBVN và từ từ rút quân. Nguyên cả chính sách là một đại họa. Những hành động của chính phủ làm hại Cam Bốt, uổng mạng cả ngàn người Mỹ, Việt Nam, Cam Bốt, không đem đến lợi thế thật sự nào, và làm phân chia xứ sở. Hiệp định hòa bình Ba Lê vào tháng Giêng 1973 không bảo đảm quyền tự quyết của MNVN và cũng không chấm dứt giao tranh mà nó tiếp tục trong câm nín cho đến khi MBVN tổng tấn công vào năm 1975 đem MNVN dưới sự kiểm soát của Hà Nội. Sự quan tâm của Nixon và Kissinger về rút quân sớm theo sau đó là sự xụp đổ của MNVN sẽ gây tổn thương nặng cho tiếng tăm của Hoa Kỳ trên thế giới là một phán xét sai lầm. Bốn năm khổ ải mà Nixon dùng để chấm dứt chiến tranh với hơn hai mươi ngàn sinh mạng lính Mỹ là cái giá quá cao để trả cho mục đích đáng lẽ có thể đạt được sớm hơn nhiều mà không có hậu quả quan trọng nào trên ảnh hưởng quốc tế của Hoa Kỳ. Hà Nội xâm chiếm MNVN hóa ra chỉ là một gợn sóng lăn tăn trong Chiến Tranh Lạnh. Nó không làm Mỹ mất uy tính với đồng minh của họ hoặc làm người Nga hay Trung Cộng mạnh dạn lên. Ngược lại, những quốc gia ở cả hai bên chiến tuyến nhận thấy sự rút lui của Mỹ từ một chiến tranh không thể thắng được là một hành động thực tế biết điều cho phép Hoa Kỳ tập trung sức lực vào những thử thách thật sự trong chính sách đối ngoại. Nếu ai có thể nói rằng sự thất bại của Nixon và Kissinger về Việt Nam là kết quả của phán xét sai lầm thì chiến lược bốn năm vừa đánh vừa đàm có thể đơn giản được xem như là con toán sai bởi hai người đáng lẽ được xem là hai lãnh đạo chính sách ngoại giao tài ba. Họ biết ngay từ đầu là cơ hội cho MNVN tồn tại mà không cần sự giúp đỡ quân sự tiếp tục của Mỹ, giỏi nhất cũng chỉ là là mỏng manh và sự mệt mỏi của quốc hội và dân chúng về Việt Nam cho thấy sự giúp đỡ lâu dài như thế là điều không thể xẩy ra. Quyết định “cứ thế mà đi” của hai người cho đến khi Sài Gòn có thể đứng vững một mình cũng là kết quả của nghi kỵ chính trị. Lý do chính là những hậu quả chính trị trong nước nếu Sài Gòn sụp đổ. Họ trì hoãn rời Việt Nam cho đến sau bầu cử tổng thống năm 1972. Như Kissinger đã cảnh cáo Haldeman khi Nixon cân nhắc chấm dứt can thiệp của Hoa Kỳ vào cuối năm 1971, sự rối loạn ở MNVN vào năm 1972 có thể phá cơ hội trở lại Bạch Ốc của Nixon. Để bảo đảm ngăn ngừa các lời oán trách sau đó về thất bại ở Việt Nam mà nó dường như chắc chắn sẽ theo sau sự sụp đổ nhanh chóng của Sài Gòn sau khi Mỹ rút lui, Nixon và Kissinger hy vọng Hà Nội sẽ để một “khoảng cách thời gian kha khá” trước khi lật đổ chính phủ TT Thiệu. Cuối cùng, mối quan hệ giữa Nixon và Kissinger là một trong những, hay có thể là một hợp tác ở Bạch Ốc quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Sự tâm đồng và kiến thức về thế giới đem đến những thành quả gây ấn tượng sâu sắc. Nhưng cái đam mê chia sẻ độc quyền kiểm soát chính sách đối ngoại của họ cộng với những phán đoán sai lầm về Việt Nam, Cam Bốt, Chí Lợi, và Nam Á cũng tạo nên những thất bại đáng kể. Sự quan hệ giữa họ là một bằng chứng là tài năng, kiến thức, và kinh nghiệm không bảo đảm kết quả thành công về ngoại giao. Chắc chắn là vẫn hơn khi các nhà lãnh đạo có những đức tính như vậy, nhưng điều đó cũng cho thấy rằng không ai có độc quyền khôn ngoan. Như Thomas Jefferson đã nói, luôn luôn trông chừng là một phần tử quan trọng trong một hệ thống dân chủ. Khi một xã hội mà trong đó người dân cho những phán xét tốt của chính phủ là điều tất nhiên thì đó là một xã hội dễ bị thất vọng và thất bại. Chính phủ Nixon-Kissinger cung cấp nhiều bài học có tính cách xây dựng cho hiện tại và tương lai về chính sách đối ngoại. Nhưng nó cũng là một câu chuyện khuyên răn nếu quên thì quốc gia phải chịu những hậu quả.
|