|
Vào mùa đông 1970-1971, Nixon tin rằng ông đã thất bại trong hai năm vừa qua. Ông nói “những tháng đầu tiên của năm 1971 là thời điểm thấp nhất của nhiệm kỳ đầu của tôi. Những vấn đề chúng tôi phải đối phó quá lớn và bất cứ gì chúng tôi đã có thể làm để thay đổi tình thế đều không thấm vào đâu cho đến độ có thể tôi sẽ không được đưa ra tranh cử vào năm 1972.” Việt Nam là vấn đề đầu tiên. Sau vụ vượt qua biên giới Cam Bốt, nước Mỹ chưa từng bao giờ hăng hái muốn chấm dứt sự can thiệp vào một cuộc tranh chấp quá tốn kém và quá làm nản chí như thế. Lính Mỹ bây giờ nghe theo những thực tế trên ở chiến trường hơn là diễn văn từ Bạch Ốc, họ xác nhận là “tiến triển về nhiều lãnh vực của chiến tranh vẫn còn mơ hồ.” Những tướng tá trong lục quân nói với tổng tư lệnh quân đội “chúng ta gần hết thời gian rồi…Mặc dù có vài hy vọng là phá hủy các vùng có căn cứ quân MBVN ở Cam Bốt và Lào có thể ngăn chặn MNVN sụp đổ, hậu quả cuối cùng có thể sẽ là Cộng sản chiến thắng sau này…Cuộc chiến đã trở thành một hố không đáy.” Trong suốt nửa năm sau của 1970, Nixon và Kissinger chật vật để giữ cao tinh thần của lính Mỹ và MNVN cho đến khi họ có thể tìm ra một công thức để chấm dứt chiến tranh. Vào tháng Sáu, Nixon gửi một lời nhắn riêng qua Kissinger cho các viên chức của Ủy Ban An Ninh Quốc Gia: điều quan trọng là “phải suy nghĩ lạc quan, tích cực, nhất là về phương diện quân đội và tiếp liệu, hai nơi mà chúng ta đã suy nghĩ quá thụ động.” Vào tháng Chín, sau khi đài “NBC chiếu một phim thời sự thật tiêu cực” về quân lính của MNVN tháo gỡ một căn cứ bỏ trống của Mỹ và bán từng thứ gỡ được ở chợ đen, Kissinger bị thúc dục để phản pháo lại cuốn phim thời sự này. Những hàng chữ viết nguệch ngoạc “Chào vĩnh biệt và chúc may mắn” khắp nơi trong căn cứ dường như muốn nói đây là chương cuối cùng của sự thất bại của người Mỹ và MNVN. Tệ hơn thế nữa, vào thời điểm 1070-1971, quân lực Mỹ ở Việt Nam bị thất vọng vô cùng. Tất cả quân lính ở mọi cấp bậc đều có ý tưởng là họ đang chiến đấu với một lý tưởng đã mất. Hằng ngàn quân lính bị nghiện bạch phiến. Điều này làm chính phủ Mỹ bối rối và Nixon muốn guồng máy giao tế dân chúng của Bạch Ốc vận động chống lại những tin xấu này bằng những bài tường trình tích cực về lính Mỹ trong chiến tranh. Mặc dù Nixon ra lệnh làm một nghiên cứu về nghiện thuốc phiện trong quân đội, không ai có một giải pháp nào ngoại trừ chấm dứt vai trò của Mỹ ở Việt Nam. Vào mùa xuân, khi Nixon phát biểu trước các sĩ quan tốt nghiệp tại trường võ bị West point, ông nói khéo “Điều rõ ràng bây giờ là những nhân tố huyết mạch của một đạo quân như kỷ luật, liêm chính, yêu tổ quốc, hy sinh bản thân không còn là điều đương nhiên trong quân đội mà các anh sắp phục vụ. Những dấu hiệu khó khăn đều được thấy rõ, từ nghiện ngập cho đến bất tuân lệnh.” Nhiệm vụ mới của các sĩ quan tương lai là tạo cho “một đời sống và ý nghĩa mới cho quân kỷ trong thời gian khó khăn sắp đến.” Nixon hiểu chấm dứt chiến tranh là điều cần thiết để cứu vãn vai trò tổng thống của ông, bảo tồn sự thanh bình trong nước, và xây dựng lại quân lực Mỹ. Nhưng vẫn chưa thấy kết quả gì sau hai mươi tháng cố gắng. Đối với nhiều nhà quan sát, điều trở nên quá rõ ràng là Hà Nội chỉ có ý định ngồi chờ cho đến khi người Mỹ kiệt quệ cuốn gói đi về. Tuy vậy, Nixon và Kissinger vẫn níu kéo vào niềm tin là họ có thể dùng sức ép quân sự để bắt buộc Hà Nội có một thoả thuận để MNVN được tự chủ - đó là hòa bình trong danh dự. Vào tháng Chín năm 1970, Nixon cảm thấy một sự khẩn trương lớn lao chưa từng thấy về đi tìm một công thức hoà bình cho Việt Nam. Sau khi gặp hai thượng nghị sĩ bảo thủ Harry F. Byrd (Dân Chủ) và Gordon Allott (Cộng Hòa) với lời cảnh cáo phải chấm dứt chiến tranh nhanh chóng, Nixon nói với Kissinger “Bên tả thì vẫn là bên tả, và điều họ muốn là đi khỏi Việt Nam – đó là vấn đề của họ. Nhưng bây giờ bên hữu cũng muốn rút khỏi Việt Nam – đó là vấn đề của mình.” Vì Nixon tin rằng cuộc hành quân sang Cam Bốt đã “ảnh hưởng nặng nề” đến khả năng phản công ngay lập tức của MBVN, ông hy vọng là MBVN đang có thể sẵn sàng hoà đàm một cách dứt khoát. Do đó, vào tháng Tám, khi Hà Nội đồng ý gặp Kissinger lần nữa, ông ta kín đáo đi Ba lê để gặp Xuân Thủy hôm mùng 7 tháng Chín. Kissinger sẵn sàng nghe lập lại yêu sách muôn thuở của MBVN là Mỹ đơn phương rút quân và thiết lập một chính phủ liên hiệp không Thiệu hay Kỳ. Sự vắng mặt của Lê Đức Thọ ở buổi họp làm Kissinger nghi ngờ hơn bao giờ cuộc họp sẽ có kết quả tốt. Thay vì bị “đay nghiến,” Kissinger ngạc nhiên rất nhiều về sự thân thiện của họ. Họ “tuyên bố mong muốn một giải pháp nhanh chóng.” Nhưng Kissinger cũng cảnh cáo Nixon đừng lạc quan thái quá vì “khó mà đoán được họ chỉ muốn nhử để cho mình cứ nói hay là họ có ý định thật sự đi đến thương thuyết nghiêm chỉnh.” Sự nghi ngờ của Kissinger trở nên đáng tin cậy. Lời đề nghị để bàn thảo về hòa bình của MBVN cho buổi họp hôm 27 tháng Chín đã không “chứa một điều khoản thật sự mới mẻ nào cho bất cứ gì.” Hà Nột tiếp tục đòi hỏi Mỹ rút quân vô điều kiện và bỏ rơi chính phủ TT Thiệu. Kissinger tường thuật lại cho Nixon rằng cuộc thảo luận dài bốn tiếng rưỡi “hoàn toàn vô bổ và kết thúc mà không hẹn ngày gặp lại.” Nhưng ông cũng khuyên không nên bỏ cơ hội. Ông ta hy vọng đây là buổi gặp trước vòng chung kết. Kissinger không thể cắt nghĩa tại sao MBVN đã tỏ ra quá thân thiện trong kỳ họp vừa rồi, nhưng ông kết luận “họ ở trong một trạng thái lưỡng lự…Họ tự đặt vào thế chờ gió bẻ măng để mong đợi và hy vọng điều gì tốt xảy ra.” Dường như lời miêu tả này thích hợp cho tình trạng của Kissinger hơn là của MBVN. Để xúc tiến cuộc hòa đàm, Nixon đồng ý đề nghị lấy ngày mùng 7 tháng Mười làm ngày ngưng bắn tại chỗ. Lời đề nghị này chủ ý nhắm vào dư luận quốc nội đang trong mùa bầu cử quốc hội. Kissinger không nghĩ là MBVN sẽ chấp thuận, ông ta nói với Joe Alsop “tuy nhiên, nó sẽ làm im mồm một số người trong nước.” Đồng thời, Nixon và Kissinger nghĩ là đề nghị này sẽ thăm dò sự mong muốn của Hà Nội “để dàn xếp với bất cứ gì ngoài chiến thắng toàn diện. Đòi hỏi của họ thật là phi lý.” Kissinger nói với Safire “họ muốn mình rút lui và trên đường rút, lật đổ chính quyền MNVN… Nếu quả thật mình có rút quân thì chính họ [MBVN] là người quyết định lật đổ chính phủ Sài Gòn chứ không phải Mỹ.” Khi đưa ra đề nghị, Nixon tuyên bố “chúng ta hiện giờ sẵn sàng thương thuyết một thời khoá biểu được thoả thuận [bởi hai bên] để rút quân toàn diện như là một phần của sự dàn xếp toàn diện.” Cả Nixon lẫn Kissinger đều hiểu rằng đề nghị này có thể được suy diễn như là một hành động rút quân đơn phương. Nhưng Kissinger trấn an Bruce và Habib ở Ba Lê “chúng ta sẽ không… rút quân đơn phương.” Với cuộc hoà đàm bế tắc, Nixon hy vọng ép buộc Hà Nội bằng cách tuyên bố rút quân Mỹ về nước nhanh hơn. Ông nói hôm 12 tháng Mười “tiến triển không ngừng của chương trình Việt Nam Hoá đã làm tốc độ rút quân gia tăng là điều có thể khả thi.” Vào Giáng Sinh [năm 1970], tổng số quân Mỹ ở Việt Nam sẽ còn 240,000 người, đó là 305,500 người ít hơn “từ lúc tôi lên làm tổng thống.” Lời tuyên bố của Nixon này không những được nhắm vào cử tri Mỹ mà còn vào MBVN. MBVN cũng được cho biết là quân đội MNVN đang lớn mạnh để có thể tự vệ. Trừ khi Hà Nội đồng ý về một thoả thuận hoà bình trong tương lai gần, họ sẽ phải đối diện với cuộc chiến đấu kéo dài chống một lực lượng được trang bị tối tân như lính Mỹ. Hôm 21 tháng Mười, cuộc hội kiến giữa Nixon, Kissinger, và Thủ Tướng Lào Souvanna Phouma cùng với những tường trình của tình báo Mỹ về khả năng chiến đấu của Hà Nội làm phấn khởi những hy vọng của chính phủ Mỹ về rút quân sớm từ Việt Nam. Thủ Tướng Phouma và những phân tích gia của Ủy Ban An Ninh Quốc gia Mỹ kết luận rằng chiến dịch tấn công qua Cam Bốt và chính phủ Lon Nol đã làm suy yếu khả năng tiếp tế của MBVN cho quân lực của họ ở MNVN và bó buộc họ phải xây dựng lại mạng lưới hậu cần. Vào tháng Chạp năm 1970, Nixon gặp John Paul Vann, một cựu sĩ quan và người điều khiển chương trình bình định ở MNVN. Kissinger giới thiệu ông ta cho Nixon như là “một trong những sĩ quan Mỹ kinh nghiệm nhất ở Việt Nam.” Kissinger tường thuật “ông Vann rất lấy làm khuyến khích bởi những tiến triển mà đồng minh của Mỹ đang gặt hái được. Giống như Ngài Robert Thompson, chuyên gia chống du kích của Anh Quốc, ông ta tin rằng chúng ta đã đạt đến ‘vị trí thắng cuộc.’” Những bài tường trình từ chiến trường cũng góp thêm vào hy vọng của Nixon. Vào tháng Chạp, đại diện quân sự Mỹ ở Nam Vang miêu tả quân đội Cam Bốt đang “kềm chế kẻ thù khá tốt … và cải tiến đều đặn.” Mặc dù khuyên “đừng lạc quan thái quá,” người đại diện quân sự này “tin tưởng về khả năng chịu đựng qua khỏi của Cam Bốt.” Tất cả đều diễn ra đúng như theo sở thích của Nixon. Ông phê trên bài tường trình “Kissinger – bài phân tích thông minh.” Ông cũng nói với Kissinger “nếu chúng ta không sang Cam Bốt thì nước đó chẳng có ngày hôm nay. Có thể nó sẽ có một chính phủ bù nhìn hoặc trôi xuống ống.” Nixon tin tưởng nước Mỹ có thể thắng cuộc chiến nếu họ có đủ ý chí để tập trung vào vấn đề lớn. Kissinger nói với Nixon hôm mùng 9 tháng Chạp “hiện giờ chúng ta có cơ hội thắng chiến tranh khốn khiếp này, nhưng chúng ta sẽ không thắng khi có những người, tỉ dụ như bọn khốn nạn ở đâu tự dưng nhẩy vào nói mình đang bị khủng hoảng ở Cam Bốt.” Ông ta than phiền là chính phủ quá bận rộn với những chuyện không đâu, họ cần “tập trung vào cái mà sẽ làm mình thành công hoặc thất bại.” Nhà bình luận Joe Alsop còn làm hứng khởi thêm về hy vọng chiến thắng. Ông nói với Kissinger “Thượng Viện có thể nhanh chóng chuyển thắng thành bại và MNVN có thể chính là kẻ thù lớn nhất của họ, sự nguy hiểm ở đây không còn là Hà Nội nữa.” Cuộc viếng thăm Cam Bốt và MNVN của Haig vào cuối tháng làm gia tăng niềm tin của Nixon là ông đang thu nhiều thắng lợi ở Đông Nam Á. Kissinger tường thuật cho tổng thống là Tướng Haig “rất lấy làm khích lệ bởi những tiến triển từ lần thăm viếng trước và thật là có ấn tượng với những lợi ích mà chiến dịch hành quân qua Cam Bốt tiếp tục đem đến.” Về MNVN, Haig nhận thấy “dấu hiệu khắp nơi cho biết tình trạng quân sự và an ninh tổng quát đang cải thiện.” Haig nói với Kissinger “chiến thắng đang trong tầm tay chúng ta.” Cho dù với những “tin lành” đó, Hà Nội không tỏ vẻ nhượng bộ bất cứ gì và điều này lẽ ra mới đúng là dấu hiệu thực tế ờ Việt Nam. Vào cuối tháng Mười, khi Bruce [của phái đoàn Mỹ ở Ba Lê] yêu cầu gặp riêng Xuân Thủy, Xuân Thủy nói “bảng giờ giấc của tôi bây giờ đầy hết rồi.” Buổi họp hôm 16 tháng Mười Một sau đó càng làm nổi bật những khác biệt không thể chế ngự được của hai bên. Hôm mùng 10 tháng Chạp, Nixon tổ chức cuộc họp báo đầu tiên trong bốn tháng. Ông nhấn mạnh sự quyết chí tiếp tục hoà đàm Ba Lê mặc dù phải đối diện với “một kẻ ngoài vòng pháp luật quốc tế không tuân thủ theo những khuôn khổ cư xử quốc tế.” Trong một một cuộc đàm thoại riêng với Đại Sứ William Sullivan, một thành viên của phái đoàn Mỹ ở Ba Lê, Kissinger diễn tả người Cộng Sản Miền Bắc còn tượng hình hơn nữa: ông gọi họ là “bọn man ri mọi rợ” vì MBVN từ chối không cho biết tên tù binh Mỹ. Họ thật là “tán tận lương tâm” khi “chơi trò tống tiền với sinh mạng con người.” Vì lý do ngoại giao, Kissinger đồng ý để Sullivan tả hành vi của họ là “vô nhân đạo” thay vì “man ri mọi rợ.” Kissinger cũng đánh giá thấp người MNVN. Khi Ron Ziegler hỏi ông ta về cuộc họp của tổng thống với Nguyễn Cao Kỳ, Kissiger trả lời mỉa mai là Kỳ hứa sẽ không tóm tắt cuộc họp cho báo chí và “như ông đã biết, người Việt không bao giờ nói dối.” Ziegler thốt “Ba sạo!” Khi có người nói Kissinger rằng Nixon có thể sẽ không trúng cử kỳ tới vì Việt Nam, Kissinger cãi “chúng ta có thể ra khỏi Việt Nam bất cứ lúc nào chúng ta muốn, và chúng ta sẽ ra khỏi Việt Nam trước bầu cử tổng thống năm 1972.” Nixon muốn một chương trình rút hết tất cả quân Mỹ vào cuối năm 1971, nhưng Kissinger cảnh cáo rằng nếu MBVN gây bất ổn định cho Sài Gòn trong năm 1972, nó sẽ có tác động xấu cho cơ hội tái trúng cử của tổng thống [Nixon]. Kissinger khuyến cáo rút hết quân vào mùa thu năm 1972, “để nếu có bất cứ chuyện gì xấu nào xảy ra sau đó thì đã quá muộn để ảnh hưởng đến bầu cử.” Ông ta không đề cập gì đến những sinh mạng người Mỹ sẽ bị hy sinh để phục vụ cho Nixon trúng cử thêm một nhiệm kỳ nữa. Sau hai năm làm cho Nixon, Kissinger cũng hoài nghi về chính trị y như xếp của ông. Kissinger quan tâm về Nixon tái trúng cử nhiều hơn là về sự độc lập của MNVN, điều này được thể hiện qua cuộc đàm thoại với Dobrynin vào tháng Giêng 1971. Kissinger nhờ ông ta nói Hà Nội rằng nước Mỹ sẵn sàng cứu xét rút quân đơn phương. Để đổi lại, ông nói “Điểm quan trọng là MBVN nên cam đoan tôn trọng một cuộc ngừng bắn trong khi quân đội Mỹ rút lui, cộng với một thời gian không lâu sau đó.” Ông nói thêm “Nếu người Việt có thể đồng ý với nhau về một thỏa hiệp phải chăng, và ngay sau đó, nếu chiến tranh có bùng nổ trở lại giữa MNVN và MBVN, thì sự xung đột đó không còn là chuyện của nước Mỹ, đó sẽ là chuyện riêng của người Việt giữa họ với nhau bởi vì người Mỹ lúc đó đã rời khỏi VN… Cách thức đó sẽ giúp người Mỹ tránh khỏi sự bắt buộc phải thi hành những cuộc thương thuyết kéo dài và trên thực tế, vô bổ về một giải pháp chính trị cho MNVN sau khi người Mỹ đã về hết.” Nói tóm lại, nếu Hà Nội có thể nghĩ ra, người Mỹ đang xin một thời hạn kha khá giữa sự rút quân của họ và sự sụp đổ của MNVN. Với đàm phán đang tắc nghẽn và mùa khô sắp đến, Nixon đoán MBVN sẽ mở một cuộc tổng tấn công vào đầu năm 1971 tương tự như Tết Mậu Thân năm 1968. Ông muốn có cái gì “ngoạn mục ở MBVN để có thể làm họ thương thuyết.” Do đó, vào giữa tháng Chạp, Haig chuyển lời đề nghị của Nixon cho TT Thiệu mở cuộc tấn công để có thể ngăn chặn Cộng Sản leo thang chiến dịch trong những tháng sắp đến. TT Thiệu và những cấp chỉ huy quân đội và phái đoàn ngoại giao Mỹ đã thảo luận một chương trình tinh vi hơn, đó là một cuộc hành quân táo bạo sang Lào, vào tận đầu phía bắc của đường mòn HCM, khoảng dưới vùng phi quân sự, ngay tại thị xã Tchepone. Nixon hứng khởi và gửi Laird cùng với Tham Mưu Trưởng, Đô Đốc Moorer đi Ba Lê để bàn về tình trạng hoà đàm, rồi đến Sài Gòn để bàn về cuộc tấn công. Sau chuyến đi, hôm 18 tháng Giêng, Laird tường trình là phái đoàn Mỹ ở Ba Lê “không có hy vọng nhất thiết” nào về tiến triển. Nhưng tất cả đều nghĩ những cuộc thương thuyết vẫn là phương tiện “đặt tư thế” có ích lợi. Ở Sài Gòn, TT Thiệu nói Laird rằng bàn bạc về chấm dứt chiến tranh vào năm 1972 là quá hấp tấp. Ông đoán là “cuộc chiến còn dai dẳng trong nhiều năm nữa và chúng ta nên bàn về sự tham gia của người Mỹ.” Mọi người đều lạc quan là cuộc tấn công của MNVN vào đường mòn HCM bên Lào sẽ mang lại kết quả tốt. Laird tường trình “về cán quân, MNVN có khả năng thật cao.” Đô Đốc Moorer nghĩ “quân lực MNVN trở nên khá hơn bao giờ hết.” Nixon và Rogers cùng đồng ý không cần dùng đến lục quân và cố vấn Mỹ trong chiến dịch, nhưng tán thành yểm trợ dội bom, không vận, và pháo binh. Nixon tiên đoán là mặc dù đóng vai trò giới hạn, “mình sẽ bị người ta trách móc thật tình vì bành trướng chiến tranh qua Lào.” Tuy nhiên, ông cho rằng chiến dịch như vậy có thể “chứng tỏ phải dứt khoát khi lâm chiến.” Chỉ có ông Helms [giám đốc Cơ Quan Tình Báo Trung Ương] đưa ra nhiều nghi vấn quan trọng mặc dù đã biết những thất bại gây tai hại đến kế hoạch hành quân của Mỹ trong quá khứ. Ông tiên đoán là “quân lực MNVN sẽ gặp một trận đánh khó khăn ở Lào” mà nó sẽ làm hỏng chiến dịch. Moorer đồng ý nhưng nói “đây có thể là cơn thở hắt của kẻ địch.” Kissinger tiên đoán “địch sẽ phải mất thời gian dài để bình phục,” và Rogers cảnh cáo “đó là điều tai hại cho nước Mỹ nếu quân đội MNVN thất bại.” Nixon từ chối bàn về bất cứ ý tưởng thua trận nào, ông nói “chiến dịch không thể kết thúc bằng thua trận.” Ông ta muốn yên trí đánh cuộc bằng cách “đặt những mục tiêu rất giới hạn như đánh phá đường mòn… kết hợp để đột kích trại trú ẩn.” Tuy vậy, ông vẫn có hy vọng là quân lực MNVN có thể chu toàn sứ mạng. Nhưng “nếu họ không thể làm được thì mình cũng phải biết.” U. Alexis Johnson của Bộ Ngoại Giao cảnh cáo về rủi ro cho nước Mỹ nếu cuộc tấn công thất bại. Ông tuyên bố trong một buổi họp của Nhóm WSAG [Washington Special Actions Group] là ông nghi ngờ khả năng thành công của Sài Gòn. Ông sợ là cuộc tấn công sẽ làm chính phủ Lào sụp đổ và Cộng Sản có thể kiểm soát ở miền Bắc và trung Lào. Cuộc tấn công cũng có rủi ro làm bùng phát chống chính phủ ở Quốc Hội và Liên Hiệp Quốc. Để bào chữa cho Nixon, Kissinger nhất định không để bị thoái trí. Ông nói “cuộc hành quân qua Lào sẽ ngăn cản MBVN không phát động một cuộc tổng tấn công cho đến khi cuối mùa khô năm 1972… điều đó có nghĩa là nước Mỹ sẽ có thêm một mùa khô để tiếp tục chương trình Việt Nam Hoá và bảo vệ rút quân… cuộc tấn công này có thể làm chiến tranh chấm dứt vì nó sẽ vô hiệu hóa mọi khả năng của địch.” Nixon phụ họa thêm vào sự lạc quan của Kissinger. Hôm 26 tháng Giêng, ông nói với Kissinger, Moorer, và Haig “tình trạng địch đã suy sụp thấy rõ … và họ bị đánh tơi bời vì quân lực MNVN mạnh hơn. Chiến dịch vào mùa xuân năm nay sẽ có tác động quan trọng.” Dù sự lạc quan của họ không biên giới, nó cũng không khôn ngoan. Roger cũng không ngả theo họ. Trong một buổi họp với tổng thống hôm sau, với Laird làm hậu thuẫn, ông chụp lấy câu phát biểu của Nixon để nói “chương trình Việt Nam Hoá có lẽ thành công” dù có, hay không có cuộc tấn công qua Lào này.” Roger hỏi thế thì tại sao xúc tiến với rủi ro quá lớn? MBVN đã biết trước có một cuộc tấn công. Nếu MNVN “thua trận, nó sẽ là một thất bại cho cả chương trình Việt Nam Hoá và TT Thiệu.” Nixon và Kissinger nghĩ vẫn nên liều. Kissinger sau này tuyên bố “trên giấy tờ, đây là một dự án huy hoàng, nhưng chúng ta đã tự để mất lý trí bởi khái niệm gan dạ, bởi sự đồng lòng tuyệt đối của những người có trách nhiệm ở cả Sài Gòn lẫn Hoa Thịnh Đốn, bởi quá khứ thành công ở Cam Bốt, và bởi viễn tượng sẽ có một khúc quan dứt khoát.” Ông ta sau này cũng bộc trực viết “điều trở ngại lớn nhất của chương trình là nó không phù hợp với thực tế ở Việt Nam. Những sư đoàn của MNVN chưa bao giờ hành quân lớn chống một kẻ địch quyết tâm ở ngoài, và chỉ họa hoằn lắm ở trong Việt Nam.” Sau mười năm huấn luyện bởi các cố vấn quân sự Mỹ và cả tỷ đô la cho thiết bị quân sự, Kissinger công nhận “những sư đoàn của MNVN đơn giản là chưa đủ giỏi cho một chiến dịch phức tạp như chiến dịch ở bên Lào.” Điều đáng ngạc nhiên là Bạch Ốc không hiểu ra vấn đề này vào thời điểm đó. Chiến dịch “Lam Sơn 719”, tên gọi cho cuộc hành quân sang Lào, là một tai họa. Quân MNVN, vì không so nổi với quân MBVN, bị thiệt hại nặng nề. Được Nga Sô trang bị hỏa tiễn phóng từ vai, quân MBVN cũng gây tổn thất lớn cho trực thăng Mỹ khi chuyển quân ra vào từ chiến địa. Sau một tháng giao tranh, TT Thiệu, vì lo tổn thất nặng, ra lệnh rút khỏi Tchepone, nơi mà quân MBVN đã bỏ trống để nhử quân MNVN vào bẫy. William Bundy sau này viết “cuộc rút lui trở thành một cuộc tháo chạy tán loạn, quân lính bị pháo và đánh không thương tiếc, nhiều người lính phải được bốc bằng trực thăng Mỹ. Quân lính MNVN kiệt sức và hoảng sợ, họ nhồi vào trực thăng hay đu theo càng đáp. Khi trực thăng đáp xuống căn cứ Mỹ ở Khe Sanh, các phóng viên và nhiếp ảnh gia có thể thấy và tường thuật những hình ảnh sống động của sự mất tinh thần và thua trận.” Nixon sau này gọi cuộc xua quân qua Lào là một “thành công về quân sự nhưng là một thất bại về tâm lý, ở cả Việt Nam, nơi mà tinh thần bị lung lay vì báo chí tường thuật về cuộc tản quân, lẫn ở Mỹ, nơi mà những hình ảnh trên báo chí làm mất tin tưởng vào Chương Trình Việt Nam Hoá và viễn tượng chấm dứt chiến tranh.” Lúc đó, trước công chúng, Nixon cố gắng tạo ra một hình ảnh tốt đẹp nhất cho sự thất bại. Ông nói cuộc tấn công qua Lào đã làm mất “khả năng của Cộng Sản phát động một cuộc tổng phản công vào quân lực Mỹ ở MNVN vào năm 1971. Tuy nhiên, trong thâm tâm, ông thất vọng bởi thành tích kém cỏi của quân lực MNVN. Vào cuối tháng Hai, ông nói với những cố vấn an ninh quốc gia “phải chi quân MNVN chỉ thắng được một cái gì rẻ tiền… như là chiếm một ngọn đồi thối tha nào…bắt được một hay hai đứa tù binh, bất cứ gì!” Khi được biết không lực MNVN không oanh tạc các xe vận tải MBVN bời vì mục tiêu di động, ông bùng nổ “Ba sạo! Sao không chơi tụi chó má đó!” Ông cho lý do của họ là “lố bịch.” Vào tháng Ba, Haig trở lại Sài Gòn để định giá về cuộc tấn công. Ông tường thuật là MNVN đã mất hết nhiệt tình cho chiến dịch. “Thời gian đụng chạm dữ dội kéo dài đã thuyết phục cấp chỉ huy QLVNCH là đáng lẽ cuộc hành quân phải được hủy bỏ càng nhanh càng tốt.” Sau khi một số quân lính của MNVN hoảng hốt, Nixon nói “chỉ cần một số phim trên truyền hình chiếu cảnh vài lính của QLVNCH đu theo càng đáp của trực thăng di tản để làm gia tăng quan niệm sai lầm đang phổ biến là QLVNCH thiếu khả năng và hèn.” Nhưng Nixon không nói gì về tại sao quan niệm QLVNCH thiếu khả năng lại quá phổ biến và ông cũng không than phiền về tiên đoán trước đó của Haig vào tháng Chạp là chiến thắng đang nằm trong tầm tay nước Mỹ. Nixon từ chối công nhận sự thất bại của Sài Gòn. Giống như các huấn luyện viên cổ động đội đang thua trong lúc giải lao, ông nói với Helmes và Kissinger rằng nước Mỹ phải thắng. Vào tháng Ba, với sự thất bại của Sài Gòn ở Lào đã trở thành hiển nhiên, ông nói “Nếu chúng ta thất bại ở Đông Nam Á, nước Mỹ sẽ bị một cú đòn chí tử và sẽ không bao giờ hồi phục để trở thành một siêu cường thế giới lại lần nữa… Chúng ta không thể thất bại sau sáu năm ở đó… Chúng ta phải thắng. Vì thắng sẽ bảo đảm một cơ hội hợp lý cho MNVN sống trong hòa bình” không bị chính phủ Cộng Sản ép buộc. Điều ông không đề cập đến là ông thấy thất bại dưới tay mình là một tai họa không thể chấp nhận được trong nhiệm kỳ tổng thống và viễn ảnh tái cử của ông.
|