|
Mười lăm tháng đầu của nhiệm kỳ Nixon phần lớn tập trung vào VN với chủ yếu làm sao tiếp tục cuộc chiến, kềm chế phản chiến trong nước, và ép Hà Nội vào một thỏa hiệp mà vẫn giữ tính cách độc lập của Saigon và không buộc nước Mỹ vào một thất bại quân sự làm giảm giá trị những hy sinh bằng xương máu, của cải của người Mỹ và có ảnh hưởng xấu đến uy tín của họ trên toàn thế giới. Trong khi Nixon và Kissinger đang chật vật với VN, điều càng trở nên hiển nhiên là VN không những chỉ là một vấn đề cho chính nó mà còn là một trở ngại để giải quyết những khó khăn quốc nội và quốc ngoại khác. VN làm kỳ đà cản mũi cho hoà thuận quốc gia đổi mới và, mặc dù không quan trọng đối với Nixon, cân nhắc quan trọng cho những vấn đề quốc nội như phân biệt chủng tộc và cải tổ hệ thống phúc lợi công cộng. Dưới mắt Nixon, trở ngại quan trọng nhất là VN làm giảm viễn tượng cho quan hệ cải thiện với Liên Xô và Trung Cộng và nó để lại chỉ ít nghị lực cho sự quan tâm đến những căng thẳng ở Trung Đông, những căng thẳng này cũng có thể gây ra chiến tranh không những giữa Do Thái và khối Ả Rập mà còn một chạm trán giữa Mỹ và Liên Xô. Trong bản tường trình cho Nixon, Kissinger công nhận rằng thương thuyết ở Ba Lê làm thất vọng tràn trề nhưng ông cũng nêu ra “tiến triển quan trọng ở VN.” Ông đổ lỗi thất vọng cho những hoàn cảnh không kiểm soát được. Ông tiên đoán là những cuộc đàm phán trong tương lai sẽ có tiến triển, hội thảo giữa Mỹ và Liên Xô đã giảm tiềm năng chiến tranh giữa hai nước, và khen ngợi Chủ Thuyết Nixon như là một thay đổi thực tiễn so với những lỗi lầm trong quá khứ. Sau bản tường trình của Kissinger, Bạch Ốc tiếp theo bằng “Báo Cáo Đầu Tiên Về Chính Sách Ngoại Giao Hoa Kỳ” của Nixon, một quyển sách mỏng 160 trang với bốn mươi nghìn chữ có tựa đề “Chính Sách Ngoại Giao Cho Thập Niên ’70: Tân Chiến Lược Cho Hoà Bình.” Đây là “lần đầu tiên một Tổng Thống làm như vậy với Quốc Hội và cũng là bản báo cáo dài nhất,” ngoài báo cáo ngân sách. Mặc dù Kissinger nói với Max Frankel của tờ New York Times “Tổng Thống là người viết từng chữ của bản báo cáo,” nhưng hình như đây là điều gán ẩu vì Nixon chưa bao giờ tự nhận như vậy. Càng ngày càng sáng tỏ cho Nixon và Kissinger là việc [Nixon] trúng cử kỳ tới sẽ tùy thuộc vào rút quân ra khỏi VN. Tướng Haig nói “Không có cách chi mà Tổng Thống có thể làm ngơ” phản chiến, điều mà Nixon ngạo mạn gọi là “lên cơn.” Daniel Patrick Moynihan, phụ tá nội vụ của Nixon nói với ông ta: “Đã đến lúc hiển nhiên là chúng ta không thể ‘thắng’, và người nào cố gắng tiếp tục đánh nhau sẽ có triển vọng ‘thua’ ở trong nước.” Cảm tính phản chiến đã trở thành dư luận đa số. Vào mùa đông năm 1970, 84 phần trăm dân Mỹ thiên về một chương trình nào đó để rút quân từ trận mạc: Trong khi 38 phần trăm chỉ muốn rút từ từ hoặc chờ cho đến khi MNVN sẵn sàng gánh vác chiến tranh, gần một nửa dân chúng muốn rút ngay lập tức, hoặc nhiều nhất, trong vòng 18 tháng. Chỉ có bẩy phần trăm dân chúng thiên về gửi quân thêm và leo thang chiến tranh. Bây giờ người ta mới hiểu tại sao Nixon gác Chiến Dịch Đường Xoáy. Sự soi mòn của ủng hộ chính sách về VN của chính phủ Mỹ dựa trên nhận thức thực tế là Bạch Ốc đã không làm một tiến triển quan trọng nào để chấm dứt chiến tranh. Bây giờ đã trở nên rõ ràng đối với những người hằng quan tâm là Mỹ không thể thắng, dù cho chiến tranh có kéo dài thêm vài năm nữa. Chính Nixon cũng công nhận thực tế này một cách kín đáo trong bức thư ngắn cho Kissinger ngày 24 tháng Mười Một: “Tôi có cảm tưởng khó chịu là quân lực vẫn suy nghĩ theo kiểu chiến tranh trường kỳ và để rồi sẽ đi đến một giải pháp quân sự. Tôi cũng có cảm tưởng là trong thâm tâm, họ nhận thấy cuộc chiến không thể thắng về mặt quân sự, ngay cả về lâu về dài.” Một điều nữa trở nên hiển nhiên là hoà đàm Ba Lê cũng đang bị bế tắc. Mặc dù bài diễn văn của Nixon ngày 3 tháng Mười Một đã cho thấy “một chương trình rõ ràng” để chấm dứt cuộc chiến, Việt Nam Hoá có thể vẫn đòi hỏi Mỹ trợ giúp không tập trong một tương lai gần nhưng nó không bảo đảm quyền tự quyết cho MNVN. Nixon ở trong một tình trạng khó xử là làm sao giải thích cho hợp lý chuyện rút quân nếu Mỹ “thua” ở VN. Nixon nói với Rogers: “Chúng ta không thể đơn giản bảo cho các bà mẹ của những tử sĩ ở VN là rốt cuộc, tất cả đều vô ích.” Kissinger khuyến cáo Nixon là mặc dù có chương trình Việt Nam Hoá, họ vẫn cần một chính sách đồng nhất để bảo đảm chống “thất bại.” Giải pháp quân sự vẫn là một giải pháp hấp dẫn không thể cưỡng lại được, hoặc tối thiểu, đó là điều họ muốn Cộng Sản tin. Kissinger nói với một phóng viên Pháp vào tháng Mười Hai: “nếu Tổng Thống ngày mai quyết định dội bom MBVN, hầu hết dân chúng Mỹ sẽ ủng hộ ông.” Người phóng viên nói “nhưng cả thế giới sẽ chống.” Kissinger trả lời “nguồn của lá phiếu và ủng hộ trong nước không sai và đây là một yếu tố nòng cốt chúng tôi phải lưu tâm đến.” Đây là lời giải thích không thuyết phục được để biện minh cho phương tiện duy nhất mà Nixon và Kissinger thấy có sẵn để uốn Hà Nội theo ý muốn của Mỹ. Chương trình dự bị cuối năm cho “một phản ứng quân sự, chính trị, và ngoại giao” để đối phó với “hành động thù nghịch” gia tăng không những là một phương pháp hợp lý để sửa soạn nếu trường hợp đó xảy ra mà còn là một phương tiện để cảnh cáo Hà Nội là họ đang có cơ hội bị dội bom và gia tăng tấn công. Số tử vong của quân đội Mỹ từ trên 1,300 trong tháng Ba giảm xuống 340 trong tháng Mười Hai năm 1969 là nhờ vào chiến dịch dội bom liên tục, nhất là trên những căn cứ của MBVN ở Cam Bốt. Mặc dù rút quân về Mỹ và giảm hành quân ở VN là hai yếu tố quan trọng hơn cho giới hạn thiệt hại nhân mạng lính Mỹ, nhưng đặt công trạng trên dội bom có lợi để biện minh cho gia tăng không tập trong tương lai. Nhưng cảnh cáo của Dobrynin trong một cuộc đàm thoại riêng với Kissinger nhắc nhở Nixon tại sao ông phải gác Chiến Dịch Đường Xoáy sang một bên vào tháng Mười Một. Dobrynin dặn dò rằng “nếu Mỹ bắt đầu dội bom MBVN trở lại hoặc thả bom ở Hải Phòng, Trung Cộng sẽ gửi sang VN một trung đoàn công binh, như thế họ sẽ nới rộng ảnh hưởng của họ với Hà Nội” và làm gia tăng cơ hội chiến tranh nữa với Trung Cộng. Đối với Nixon, rút lui khỏi trận địa là điều hèn nhát, kinh tởm. Ông ta tự hỏi là trong cương vị của ông, Tướng George Patton, chỉ huy trưởng thiết giáp trong Thế Chiến Thứ Hai và cũng là người cổ võ cho chiến dịch tấn công không thương tiếc, sẽ làm gì để đánh bại Hà Nội. Câu trả lời mà Nixon thấy trong sách vở và phim ảnh ca ngợi Patton là: Hãy dựa vào hành động hiếu chiến. Thụ động là toa thuốc cho thất bại. Nixon vẫn hy vọng là một cuộc vận động giao tế công chúng có thể đoàn kết quốc gia đứng sau chương trình Việt Nam Hoá và buộc Hà Nội nhượng bộ. Khi đại sứ Anh quốc khẳng định rằng Mỹ có lẽ đã thành công nếu theo đuổi một “chính sách chọn lọc và hạn chế báo chí nhiều hơn” ở VN, Tướng Haig đề nghị với Kissinger là họ “nên thử, một cách càng tế nhị càng tốt, giảm thiểu sự có mặt của báo chí Mỹ ở VN…Hiện giờ thì đã trễ cho kiểm duyệt nhưng chúng ta có thể thử cắt bớt cơ hội cho báo chí tường thuật từ chiến trường.” Kissinger chuyển lời đề nghị này lên cho Nixon, nhưng đó lại là một đề nghị không thực tế nữa, điều này chứng tỏ hùng hồn là chính phủ đang phá sản trong việc đi tìm một kết cục thích ứng cho chiến tranh. Trong lúc đó, Nixon ra lệnh cho Haldeman “thúc đẩy vận động to lớn” để thông tin cho dân chúng biết rằng tù binh Mỹ đang bị Hà Nội “đối xử thậm tệ.” Bất cứ lời bàn tích cực về đường lối chiến tranh của Nixon đều được khen, trong khi tất cả những bài báo tiêu cực đều khiến Buchanan [tùy viên báo chí] và những nhân viên khác trong Bạch ốc dàn xếp những bức thư phản đối để gửi đến những tờ báo hay tuần báo đăng bài phê bình. Vào tháng Mười Một năm 1969, cuộc biểu tình “Tạm Ngưng” lần thứ nhì ở Washington với 250,000 người tham dự và những dòng đầu trên báo về vụ lính Mỹ tàn sát dân chúng ở Mỹ Lai, một ngôi làng ở MNVN làm gia tăng lòng mong muốn chấm dứt chiến tranh, một cuộc chiến đang chia rẽ hơn là củng cố an ninh quốc gia. Vụ thảm sát đàn bà và trẻ con trong tay những người lính Mỹ hoảng sợ là một vết nhơ cho niềm tự hào Hoa Kỳ. Làm sao một quốc gia chuyên bảo vệ nhân quyền lại có thể vi phạm một hành vi vô nhân đạo mà người ta so sánh với những hành động của Đức Quốc Xã như vậy? Nixon lên án hành động giết người này là “kinh khủng và không tha thứ được” và “một thảm cảnh ghê tởm” đáng được điều tra cho đến cùng. Nhưng Nixon cũng giận những người tiết lộ những chi tiết về cuộc thảm sát này. Nó trở thành một cơ hội để ông bộc lộ tính kỳ thị Do Thái của mình. Ông nói với các cố vấn “nằm sau vụ đăng lên báo chí này là tụi Do Thái bẩn thỉu thối tha ở Nữu Uớc .” Ông muốn một cuộc vận động quần chúng để ngăn ngừa những tai hại do tin tức này gây ra vì tin là những người ghét chiến tranh sẽ thừa dịp vụ thảm sát để gia tăng áp lực rút quân khỏi VN. Nhưng Kissinger và Haig chống lời đề nghị từ Bạch Ốc nên lập một ủy ban điều tra Mỹ Lai vì hai người này e rằng cuộc điều tra “sẽ kéo dài câu chuyện tàn ác đến tương lai.” Nixon ra lệnh cho Haldeman “thành lập nhóm kế hoạch Mỹ Lai để nghĩ ra cách kiểm soát tốt nhất cho toàn vấn đề.” “Ban hành động” gồm có Phó TT Agnew, Buchanan, Kissinger, Herb Klein, và Lyn Nofziger của văn phòng báo chí. Nhiệm vụ của họ là tìm ra “những trò bôi bẩn…để làm mất uy tín của một nhân chứng” và “quảng bá tất cả những tin tức liên quan đến Huế,” nghĩa là dùng những câu chuyện về tàn sát dân chúng của Cộng Sản trong cuộc tổng công kích Tết [Mậu Thân] để chống lại vụ Mỹ Lai. Khi báo chí cố gắng đổ lỗi thảm sát Mỹ Lai trên các tướng lãnh Mỹ, Nixon nhắn Tổng Tư Lệnh Earle Wheeler rằng ông “không muốn họ bị vạ…Ông sẽ không để quân đội bị đá lên đá xuống trong nước này.” Tuy vậy, đã không có một cố gắng kiểm soát thái độ dân chúng trong nước về chiến tranh nào có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội dàn xếp thương thuyết. Như Kissinger đã thẩm định về viễn ảnh hoà bình vào đầu tháng Giêng năm 1970, ông kết luận “một địch thủ nhất định kéo dài cuộc chiến chỉ có thể đi đến nhượng bộ khi họ phải đương đầu với những chướng ngại vật không thể vượt qua ở trên chiến trường. Chúng ta chỉ có thể thử điều này bằng cách tăng cường cho người MNVN và đập tan mọi cố gắng của Hà Nội làm gián đoạn đến sự tăng cường đó.” Vì Hà Nội đang gia tăng chuyển quân vào MNVN vào tháng Mười Hai và tháng Giêng, Nixon đoán là họ sẽ mở một cuộc tấn công quan trọng vào mùa xuân. Ông muốn đối phó với tình trạng leo thang này ngay lập tức và chống lại sự lưỡng lự của Tướng Creighton Abrams, Tư Lệnh quân Mỹ ở VN. Tướng Abrams phản đối việc tiếp tục dội bom MBVN vì tin rằng nó không đem lại nhiều kết quả tốt, nhưng ít ra, Nixon muốn ông ta gia tăng dội bom ở MNVN. Tuy nhiên, Nixon có ít tự tin là một chiêu leo thang quân sự nữa sẽ giải quyết được điều gì. Ông nói với Kissinger “tôi muốn nhìn về tương lai để xem chừng nào chúng ta mới xong chuyện khốn khiếp này, không có cách nào thắng hết!” Nhưng Kissinger lại nghĩ rằng sẽ cần một “cơn chấn động” để phá vỡ bế tắc ở hoà đàm Ba Lê. Nixon hỏi Kissinger “ông nghĩ một cơn chấn động có thể khởi động lại thương thuyết? Nếu thế thì được!” Vào giữa tháng Giêng năm 1970, Kissinger thuyết phục Nixon để cho Vernon Walters đề nghị những buổi họp bí mật ở Ba Lê giữa ông ta và đại diện của MBVN. Walters rất thận trọng khi tiếp xúc với họ vì nếu không, báo chí sẽ biết được khởi xướng của Mỹ và gây khó khăn cho triển vọng có một đáp ứng tích cực từ MBVN. Cuối tháng Giêng, Hà Nội loan báo Lê Đức Thọ, một đảng viên cao cấp của Ban Trung Ương, sẽ đi Ba Lê để tham dự Đại Hội Đảng CS Pháp; điều này ra hiệu là Hà Nội sẵn lòng chấp thuận lời mời của Mỹ. Vào tháng Hai, Nixon ra lệnh tăng cường phi vụ B-52 trên các vùng đóng quân chính quy MBVN ở bắc Lào. Vì ông không dám bắt đầu dội bom MBVN trở lại, oanh tạc chỗ đóng quân và đường tiếp liệu ở Lào được xem như là một phương pháp hữu hiệu để giảm thiểu công kích mùa xuân có thể xảy ra và để chứng tỏ cho Hà Nội biết Nixon sẵn sàng gia tăng sức mạnh nếu họ không thương thuyết nghiêm chỉnh. Hôm 16 tháng Hai, phái đoàn của MBVN ở Ba Lê mời Walters đến gặp Mai Văn Bộ ở một nơi kín đáo. Bộ nhờ Walters nhắn cho Kissinger là Lê Đức Thọ muốn gặp ông ta vào ngày 20 hay 21 nếu ông ta còn ở Ba Lê và ít ra, Bộ và Xuân Thủy cũng sẽ có mặt để thảo luận. Hà Nội không thấy có lợi nhiều từ những cuộc thương thuyết bí mật nhưng nhận lời mời của Walters để làm phương tiện cho báo chí trong nước Mỹ khỏi chê trách vì điều này có thể làm nản chí những người phản chiến. Để dấu diếm buổi họp, Kissinger phải dùng đến phương thức mà Nixon gọi là “hành động gián điệp” giữa ông ta, Walters, và ba người từ pháì đoàn MBVN; Kissinger phải nói dối là ông ta bay đến Pháp từ Camp David trong một phi vụ huấn luyện quân sự; ở Ba Lê, ông phải “nằm rạp xuống đệm xe Citroёn để chốn tránh ký gỉa tò mò” khi di chuyển từ căn hộ của Walters dến chỗ hẹn kín của MBVN tọa lạc trong khu thợ thuyền. Kissinger tả buổi thảo luận kéo dài bảy tiếng hôm 20 tháng Giêng cho Nixon như là “một buổi họp quan trọng…chắc chắn là quan trọng nhất từ lúc ông nhậm chức và có thể ngay cả từ lúc bắt đầu hoà đàm vào năm 1968.” MBVN sẵn sàng chấp thuận “thủ tục cho những cuộc gặp gỡ bí mật trong tương lai mà chúng ta đề nghị…và cho cảm tưởng là họ sẵn sàng nói chuyện đàng hoàng hơn trước nhiều… Họ bỏ yêu sách đòi hỏi lật đổ chính phủ MNVN là điều kiện tiên quyết cho những hội đàm quan trọng…Họ không nhắc đến chữ “vô điều kiện” khi nói đến rút quân Mỹ về nước.” Kissinger cũng tường trình cho Nixon “Không ai nhấn mạnh đến chính phủ liên hiệp…và cương vị của hai bên vẫn còn rất xa cách nhau.” Nhưng ông không nghĩ rằng họ sẽ giữ thái độ bất di bất dịch được lâu. Thật vậy, ông ta thấy “những dấu hiệu mờ ảo là họ có thể sẵn sàng bàn luận nghiêm chỉnh về rút quân trên căn bản song phương.” Họ xem có vẻ háo hức về “một dàn xếp nhanh chóng.” Trong buổi họp khác hôm 16 tháng Ba, MBVN “đi xa hơn lần trước về việc bỏ những điều kiện tiên quyết cho những hội đàm quan trọng… Họ nhất quyết ám chỉ là họ muốn giữ đường liên lạc theo kiểu này và làm việc để tiến tới một thỏa hiệp toàn bộ…Họ rất mong muốn có một cuộc họp khác vào ngày 4 tháng Tư.” Tuy nhiên, Kissinger thận trọng khi nói “mục tiêu căn bản của họ vẫn chưa rõ ràng, có thể nó sẽ lòi ra sau những buổi họp kế tiếp.” Buổi họp vào ngày 4 tháng Tư cho thấy hiển nhiên là đàm phán không đi đến đâu như từ trước đến giờ. Hà Nội tiếp tục đòi hỏi Mỹ rút quân khỏi VN vô điều kiện, để quân chính quy MBVN ở lại và làm MNVN thành mồi ngon cho Cộng Sản chiếm đoạt. Điều này thuyết phục Kissinger là không còn gì để tiếp tục đối thoại. Ông tường trình cho Nixon “không khí của buổi họp khó khăn hơn hai lần trước...Tuy chỉ đối diện nhau có vài mét nhưng lối suy nghĩ thì cách xa cả đại dương…Họ đưa ra những điều kiện cho nước Mỹ đầu hàng chứ không phải để thương thuyết trong một ý nghĩa bình thường nào.” Vì không đạt được một thay đổi nào từ bên Mỹ, Lê Đức Thọ tuyên bố “không còn gì nữa để bàn bạc.” Thất bại đàm phán làm Nixon nản chí, ông cho đây là một chướng ngại để kết thúc chiến tranh trước năm bầu cử 1972. Mặc dù đổ lỗi bế tắc cho Hà Nội, ông cũng giận Kissinger vì đã đánh lừa để ông tin là những buổi họp bí mật sẽ đưa đến một kết quả nào đó. Sau khi đọc bản tường trình cuối cùng về Ba Lê của Kissinger, Nixon nói với Haldeman “rõ ràng là Kissinger không thể thương thuyết được, thay vào đó, ông ta chỉ biết đưa ra những đề tài để bàn luận.” Nhưng Kissinger cũng nói cho Nixon những điều mà ông thích nghe. Vì tiếp tục bế tắc đàm phán Ba Lê sẽ làm nguy hại đến tái trúng cử tổng thống, Nixon và Kissinger thiết tha tìm một lối thoát một cách vô vọng. Cuối cùng, cuộc thảo luận bị bế tắc vì Lê Đức Thọ đã chính sác nhận ra là dư luận trong nước Mỹ sẽ buộc Nixon vào Việt Nam Hoá, một chính sách để Mỹ rút quân và mặc cho số mạng Sài Gòn mong manh trước quân lực mạnh hơn của MBVN. Bởi thế, trong lúc này, Hà Nội không thấy có lý do nào để thay đổi yêu sách rút quân Mỹ vô điều kiện và lật đổ chính phủ MNVN của họ. Sự thất bại của hội thảo bí mật làm Nixon nóng ruột hơn bao giờ để tìm một công thức chấm dứt chiến tranh mà nó có thể gia tăng cơ hội tái trúng cử. Vào tháng Ba năm 1970, nhà bình luận phò chiến tranh Joe Alsop nói với Nixon “nếu chính sách ở VN bất thình lình trở thành một thất bại thê thảm, cả một quan điểm sẽ bị thay đổi tận gốc trong nước Mỹ. Sự bùng nổ của dân chúng bất bình về dội bom ở Lào cùng với đàm phán bí mật thất bại chứng tỏ sự bấp bênh của VN có ảnh hưởng đến cương vị chính trị của Nixon ra sao. Bài tường thuật của báo New York Times về các cuộc dội bom B-52 trên quân chính quy MBVN ở bắc Lào đã gây nhiều phản đối từ quốc hội và dân chúng. Vào cuối tháng Giêng, khi một phóng viên hỏi “nước Mỹ can thiệp vào Lào đến độ nào?”, Nixon trả lời Hà Nội có năm mươi nghìn quân ở đó và Hoa Kỳ đang giúp chính phủ Lào bảo tồn sự độc lập của họ. Vào tháng Ba, để trả lời cho bài báo của NY Times, Nixon chối là không có lính Mỹ ở Lào mặc dù có 1,040 cố vấn, và không ai tử thương do chiến đấu trên bộ. Ông tả vai trò chính của Mỹ là yểm trợ không lực để làm gián đoạn đường mòn Hồ Chí Minh. Một ký giả viết “sau nhiều năm không được nhắc đến, chiến tranh ở Lào nổ tung trên mặt báo Mỹ. Thay vì làm sang tỏ, tin tức tiết lộ thường bị bóp méo và chấp vá, gây nghi ngờ và đổ dầu thêm vào lời kêu gọi chống chiến tranh ở trong nước.” Tờ Philadelphia Inquirer than phiền rằng những lời tuyên bố của chính phủ về Lào hầu như “thiếu tin cậy,” nhất là khi Nixon nói không có tổn thất nhân mạng, đó là một điều sai. Nixon và Kissinger đáp ứng với những phê bình trong nước bằng một vận động giao tế công chúng thật rộng lớn. Kissinger nói với Laird “nếu chúng ta ngừng ở bên Lào, những dọa dẫm của Mỹ ở VN sẽ không có giá trị gì.” Kissinger cũng cảnh báo Nixon là họ không thể nhường nhịn xuống nước ở Lào vì nó có thể làm “vỡ tan mọi tiến triển của chương trình Việt Nam Hoá mà Mỹ đã đạt được từ trước đến nay và…thật sự làm nguy hiểm đến mọi hy vọng có thể đạt đến một dàn xếp thương thuyết trong khuôn khổ hòa đàm Ba Lê.” Tin tức về chiến tranh xuất hiện trở lại trên những trang đầu vì những chuyện bên Lào và cuộc đảo chính ở Cam Bốt vào tháng Ba. Nước này là một mối quan tâm thường xuyên của chính phủ Mỹ. Cho đến mùa xuân 1970, máy bay B-52 đã thả hơn một trăm nghìn tấn bom trên các căn cứ của MBVN ở phía đông Cam Bốt dọc theo biên giới VN. Cùng lúc đó, Nixon ra lệnh cho bộ quốc phòng và CIA bắt đầu những cuộc hành quân bí mật trong Cam Bốt vào những căn cứ MBVN bằng những lực lượng “không phải Mỹ.” Tin tức về những cuộc dội bom và oanh tạc trở nên nửa kín nửa hở. Tờ Washington Post đăng vào tháng Hai: “Máy bay Mỹ vi phạm không phận và bắn phá lãnh thổ Cam Bốt và vi phạm chính sách của Mỹ nhiều hơn là chính phủ muốn công nhận.” Đảo chính ở Cam Bốt làm gia tăng sự lo ngại của Mỹ về bành trướng kiểm soát của Cộng Sản ở Đông Nam Á. Khi Sihanouk đi nghỉ hè hàng năm ở Pháp, tướng Lon Nol, cũng là thủ tướng và kình địch lâu năm với Sihanouk đã khuyến dụ quốc hội trao quyền cho ông. Là một người chống cộng kịch liệt và có liên hệ với chính phủ MNVN và giới trách quân sự Mỹ ở Sài Gòn, Lon Nol tuyên bố chống lại sự hiện diện của quân đội MBVN tại Cam bốt và Trung Cộng sử dụng hải cảng Sihanoukville làm con đường tiếp liệu cho Việt Cộng và quân chính quy MBVN. Đến cuối tháng Ba, quân của chính phủ Cam Bốt phải đương đầu với quân của Khờ Me Đỏ, Cộng Sản Cam bốt, và MBVN. Sau đảo chính, khi Sihanouk công khai ngả theo Trung Cộng, MBVN, và Khờ Me Đỏ. Lúc này, có được một chính phủ Cộng Sản ở Nam Vang đã trở thành một điều quá dễ dàng. Mặc dù Nixon ban đầu từ chối không công nhận chính phủ Lon Nol nhưng ông cũng có ý tưởng hỗ trợ quyền tự quyết của dân Cam Bốt. Vì nghĩ rằng Sihanouk sẽ có thể trở lại và ông ta không ngả theo Cộng Sản, Nixon tả mối quan hệ với chính phủ Lon Nol như dựa trên “một căn bản tạm thời.” Hôm 20 tháng Ba, khi Dean Acheson nói Kissinger “đừng để bị dính vào vụ này,” ông ta trả lời “ ồ không, chúng tôi không có ý định đó…chúng tôi sẽ không nói gì, và quan trọng hơn hết, sẽ không làm gì hết.” Tuy vậy, một chính phủ thân cộng ở Nam Vang vẫn đơn giản là điều không thể chấp nhận được đối với Bạch Ốc. Kissinger nói “ác mộng của Mỹ là một chính phủ Sihanouk bị cộng sản thao túng, họ sẽ cung cấp nơi ẩn trú và căn cứ hậu cần an toàn cho Việt Cộng và quân chính quy MBVN.” Để đối phó với sự kiểm soát của Cộng Sản, Nixon ra lệnh cho Kissinger phải bảo đảm tiếp tục chiến dịch dội bom “Thực Đơn.” Các biến cố ở Đông Nam Á được nhìn trước một bối cảnh được thể hiện qua hình ảnh một MNVN yếu ớt dễ bị Cộng Sản chiếm đoạt. Đúng vậy, Haig kể cho Kissinger là “lần đầu tiên bộ trưởng quốc phòng Laird nói chương trình Việt Nam Hoá là trò hề.” Kissinger dục Nixon ủng hộ khuyến cáo của Ủy Ban An Ninh Quốc Gia dùng một cớ gây hấn của Cộng Sản để “ép một thoả thuận ngay lập tức” bằng cách thi hành chiến dịch Đường Xoáy. Một bài viết trên báo cho rằng “tham nhũng và trục lợi chiến tranh đang tung hoành trong mọi tầng lớp ở [miền nam] VN” là dấu hiện báo trước “những vấn đề mà sau này sẽ phá hủy mọi cố gắng của Mỹ.” Những dung túng của Mỹ coi nhẹ vấn đề đã cho phép những “mục rữa bên trong” làm điềm báo trước chiến thắng của Cộng Sản. Tướng Haig nói với Kissinger những bài tường thuật này là “một cú đòn tâm lý cho tổng thống, người có lẽ hy vọng mọi việc ở VN đang tiến chiển vững chắc.” Hai ông sợ rằng một cuộc rút quân Mỹ lớn lao nữa từ VN sẽ là một đề nghị đầy rủi ro. Winston Lord trình bày cho Kissinger “danh tiếng của TT Thiệu đang bị xuống dốc và ông đang gặp nhiều khó khăn chính trị ác nghiệt.” Tuy nhiên, vì lý do chính trị, Nixon cũng không thể cưỡng lại áp lực trong nước để giảm quân nhiều hơn nữa. Nếu nói rằng chương trình Việt Nam Hoá chiến tranh đang bị đình trệ hoặc những mối đe dọa ở Lào, Cam Bốt, và MNVN làm rút quân nữa trở nên quá nguy hiểm sẽ làm mất tín nhiệm chương trình giảm quân của Nixon và sẽ gây ra một bùng nổ biểu tình phản chiến có tai hại chính trị đến độ mà ông ta có thể sẽ không bao giờ hồi phục lại được. Để chống lại những nguy hiểm càng gia tăng cho Sài Gòn [chính phủ MNVN] và những diễn biến bất lợi trong nước, Nixon đồng ý rút một số nhỏ lực lượng Mỹ trong ba tháng tới, nhưng sẽ giảm quân rất nhiều trong năm 1971. Hôm 20 tháng Tư, 1970, trong một bài “Diễn Văn về Tiến Triển Hòa Bình ở Việt Nam,” Nixon tường trình “tiến triển về huấn luyện và trang bị cho quân lực MNVN đã vượt xa mức mong mỏi ban đầu,” và vẫn còn nhiều vấn đề nhưng “có chiều hướng khích lệ.” Đối với những người nào đã từng nghe Johnson tường trình về VN trong những năm 1965 - 1969, những nhận xét lạc quan của Nixon nghe quá quen thuộc. Giống như đã xảy ra cho Johnson, nó làm hại nhiều đến sự tín nhiệm của Nixon hơn là làm gia tăng ủng hộ trong nước cho chương trình Việt Nam Hóa. Nixon công nhận Cộng Sản đã gia tăng hoạt động ở Lào và Cam Bốt, nhưng nói chung, cũng có “một giảm thiểu về lực lượng Cộng Sản ở MNVN từ tháng Mười Hai.” Số tử vong của Mỹ đã xuống đến mức thấp nhất trong tam cá nguyệt đầu từ năm năm nay. Ông nói thêm là những sự kiện này đã cho phép ông tuyên bố rút thêm 150,000 quân trong 12 tháng tới – nghĩa là giảm số quân xuống còn 283,500 người, khoảng một nửa so với số quân vào tháng Giêng năm 1969. Ông cũng cảnh cáo rằng mọi gia tăng tấn công của MBVN trên số quân Mỹ còn lại có thể đem đến “những biện pháp mạnh và hữu hiệu…” Ông kết luận “chúng ta sẽ không bị thua ở VN.” Cùng lúc đó, Nixon cũng quyết định ủng hộ chính quyền Lon Nol chống lại cộng Sản. Hôm 31 tháng Ba, ông ra lệnh cho tướng Abrams soạn một chương trình hành động cho Cam Bốt. Ngày mùng chín tháng Tư, Nixon hỏi và than phiền với Kissinger “tình trạng giúp Cam Bốt đi đến đâu rồi? Chúng ta không làm gì hết à?” Kissinger trấn an là họ đang chuyển tiền qua ngã Nhật Bản. Nixon nói “hãy bảo đảm là tiền đến tận tay họ.” Kissinger nói thêm “em của tướng Lon Nol hỏi xin tiếp liệu.” Nixon ra lệnh “hãy cho họ nhưng không được liên lụy bất cứ ai nhất là bộ ngoại giao.” Để xúc tiến công việc về Cam Bốt, Nixon quyết định tham khảo với bộ chỉ huy quân lực Hoa Kỳ ở VN. Nhưng ông muốn nó được xem là “một cuộc hội họp cho hòa bình” hơn là “một cuộc hội họp về chiến tranh.” Vì thế, chuyến đi Hạ Uy Di của Nixon vào giữa tháng Tư được tả như là một chuyến đi để chào mừng phi hành đoàn Apollo 13 mới về từ một phi vụ thám hiểm không gian. William Bundy tả cuộc thăm viếng của Nixon với Đô Đốc John McCain, Tư Lệnh Quân lực Mỹ ở Thái Bình Dương tại bản doanh Honolulu làm khích động sự quyết trí cứu Cam Bốt khỏi tay Cộng Sản và đồng thời vớt vát chương trình Việt Nam Hoá của ông. Nhân viên của Đô Đốc McCain dùng những từ ngữ linh động trong buổi tường trình “với những mũi tên màu đỏ” chỉa vào Nam Vang và những nơi khác nếu không chặn đứng quân đội MBVN ngay lập tức – điều này chỉ có nghĩa là dùng lực lượng Mỹ. Giả sử của Washington là Hà Nội chính ra muốn giữ những căn cứ ở Cam Bốt, không muốn lật đổ Lon Nol và đem Sihanouk về. Nhưng bài thuyết trình của McCain đã gây ấn tượng mạnh cho Nixon đến độ ông mang McCain về California để dạy cho Kissinger về những nguy hiểm cho chương trình Mỹ ở VN nếu Cộng Sản chiếm Cam Bốt. Buổi tường trình khiến Nixon gia tăng và kiểm soát chặt chẽ những hành động quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á. Hôm 20 tháng tư, trong chuyến bay về Washington từ California, nơi ông đọc bài diễn văn cho cả nước, Nixon nói với Haldeman rằng từ bây giờ, ông định qua mặt Bộ Trưởng Quốc Phòng Laird và Bộ Trưởng Ngoại Giao Rogers để ra lệnh trực tiếp cho quân đội Mỹ về VN và Cam Bốt. Chiều hôm đó, để phản ứng với tin tức Cộng Sản đang gia tăng tấn công ở những vùng biên giới và có thể hăm dọa Nam Vang, Nixon sai gửi một dây thép cho Lon Nol để “trấn an chính phủ và để báo cho họ biết về vụ chuyển tiền sang một trương mục ngân hàng ở Thụy Sĩ” để tài trợ Cam Bốt chống Cộng Sản. Ông cũng muốn có một chương trình tải súng AK-47 vào Cam Bốt. Khi Rogers biết được, ông phản đối những lệnh này. Nhưng Nixon vẫn chuyển tiền và đồng ý hoãn lại những hành động khác cho đến sau khi họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia hôm 22. Dù sao đi nữa, Nixon muốn có một chương trình hành động nhanh chóng để tấn công căn cứ quân sự của MBVN nằm ở phía đông Cam Bốt giáp ranh với MNVN. Kissinger hỏi Tướng Westmoreland liệu “quân lực MNVN có thể tiến vào và thi hành mà không cần Mỹ không, ngoại trừ yểm trợ pháo binh và không quân.” Westmoreland tin là được nhưng không nghĩ là quân lực MNVN có thể “càn quét” lính Cộng Sản. Trong khi dựa hoàn toàn vào quân lực MNVN thì vẫn hơn, Westmoreland tiên đoán là quân lực Mỹ làm cũng được nhưng với rủi ro thiệt hại nặng nề; họ sẽ phải “di chuyển vô và đóng trong khu vực đó một thời gian.” Nixon hiện giờ đang phân vân phải làm gì với Cam Bốt. Ông ngả về hành động mạnh mẽ, nhưng sợ rằng nó không thể cứu nổi chính phủ Lon Nol và có thể khơi mào những biểu tình phản chiến mới. Ông ta không ngủ được trong đêm hôm 21 và thảo một bức thư cho Kissinger. Ông viết “tôi nghĩ chúng ta cần một nước cờ gan dạ ở Cam Bốt.” Nixon nắm đầu mọi gia tăng “trợ giúp quân sự Hoa Kỳ bất cứ nơi đâu qua một quốc gia thứ ba và dùng mọi cố gắng ngoại giao tối đa để tuyển lựa trợ giúp từ những quốc gia có thiện chí, cho phép hành quân vượt biên giới ngắn hạn để tấn công căn cứ Việt Cộng và lính chính quy Bắc Việt ở Cam Bốt bằng quân lực MNVN với yểm trợ pháo binh của Mỹ, và yểm trợ chiến lược từ không lực Mỹ nên được chuẩn bị nhưng chỉ được dùng trong trường hợp cần thiết.” Tuy vậy, Nixon muốn hành động nhanh và quyết liệt. Ông nhận thấy một cuộc hành quân nhanh chóng của quân lực MNVN vào Cam bốt là điều cần thiết. Nhưng Kissinger nghi ngờ vận tốc mà họ có thể chu toàn sứ mạng vì chưa quen hành quân cấp sư đoàn. Nixon cầu khẩn “nhắc đi nhắc lại cho họ là làm càng nhanh càng tốt.” Kissinger hứa “tôi sẽ thúc ép.” Nixon theo dõi bằng cách ra lệnh cho Tướng Westmoreland ép các cố vấn quân sự Mỹ ở Sài Gòn thúc dục quân lực VNCH. Kissinger cầu khẩn Westmoreland đề nghị lên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia cuộc hành quân với một sư đoàn mười nghìn quân. Mọi việc hình thành đâu vào đó ba ngày sau. Kissinger bây giờ lại ngả theo Rogers và Laird. Họ lo ngại hành động tấn công vào Cam Bốt bởi quân lực VNCH cùng với quân Mỹ sẽ gây ra khủng hoảng trong nước Mỹ vì các lãnh đạo phản chiến trong Quốc Hội và toàn quốc đang có vẻ sẵn sàng tổ chức những cuộc biểu tình dữ dằn chống mọi bành trướng giao tranh. Hôm 23, Rogers cảnh cáo Kissinger “Điều quan trọng là đừng đoạn giao hẳn với Quốc Hội.” Hôm 24, Haldeman viết trong sổ “Tối hôm qua Tổng Thống lo lắng, nhưng dầu sao, ông ấy quyết định quá vội vã, không suy nghĩ nhiều về những hậu quả.” Kissinger hỏi Tướng Wheeler tối hôm 24 “ông xem đây có bõ cho việc chính phủ sẽ bị chỉ trích không? Trong trường hợp ông thì ông sẽ làm không?” Nixon tin rằng dùng quân lực VNCH và Mỹ để tấn công cứu Cam Bốt khỏi vào tay cộng sản là điều cần thiết. Ông vẫn giữ lập trường có thể gần như mù quáng là hỏa lực của quân đội hai bên sẽ đem đến kết quả tốt đẹp ở VN. Ông nói với Haldeman “Nếu tên khốn khiếp Johnson đã làm đúng thì bây giờ mình đâu có ở trong cái rối rắm này.” Theo Nixon, cuộc ngưng dội bom MBVN năm 1968 là phản tác dụng, ông nói “Mình có thể sẽ xong mọi chuyện nếu cứ tiếp tục [dội bom] vào năm 1968.” Cuộc thăm dò dư luận sau bài diễn văn hôm 20 tháng Tư cho thấy số dân chúng tán thành lên từ 55 cho đến 62 phần trăm, điều này làm ông tự tin là lời cắt nghĩa cho hành quân sang Cam Bốt trong bài diễn văn đã làm đa số dân chúng ngả theo ông. Nhưng Laird và Rogers không đồng ý. Laird trở nên thách thức sau khi Nixon ra lệnh An Ninh Quốc Gia hôm 26 tháng Tư cho phép tấn công vùng Lưỡi Câu [Fish Hook] nằm về phía bắc của Mỏ Vẹt [Parrot’s Beak]. Laird cho rằng chiến dịch hành quân ở Cam Bốt sẽ “Không định đoạt được gì cho cuộc chiến ở MNVN. Hà Nội sẽ có thể thay thế những tổn thất” và có thể “rút lại mọi dự tính của chương trình hòa đàm.” Chiến dịch này cũng có thể làm mất sự ủng hộ của dân chúng cho hành động của Mỹ ở Đông Nam Á. Nixon không nhượng bộ. Kissinger nhắc nhở là ông ta sẽ “hứng tội” từ Quốc Hội. Nixon trả lời “Chúng mình cũng sẽ hứng tội khi không làm gì hết. Tỉ dụ mình mất VN, họ sẽ nói gì?” Kissinger trả lời: “Chương trình Việt Nam Hoá là một thất bại.” Nhưng Nixon nghĩ họ sẽ nói “Chính phủ làm hỏng cả cuộc chiến … vì lúc nào họ cũng sẵn sàng nhảy bổ lên mình mà không cần biết mình làm gì.” Kissinger bị phân vân giữa sự mong muốn duy trì ân sủng từ Nixon và niềm tin rằng sự can thiệp trực tiếp của Mỹ vào Cam Bốt có lẽ không cần thiết vì ông nghi ngờ Hà Nội chưa sẵn sàng dành lấy sự kiểm soát Nam Vang. Do Laird và Rogers chống lại quyết định của Nixon, điều này, hơn bao giờ hết, làm một người dễ bảo như Kissinger trở thành một cố vấn tổng thống quan trọng nhất. Ông được tiếng hơn với Nixon vào hôm 29 tháng Tư khi tin tức loan báo quân lực VNCH đã tấn công vùng Mỏ Vẹt và tin đồn là Mỹ sẽ làm theo ngày hôm sau. Được khuyến khích bởi Kissinger, Nixon cho là Laird và Rogers đã tiết lộ chuyện xâm lược có toan tính trước của Mỹ “để hy vọng phản ứng mạnh bạo [từ trong nước] sẽ can ngăn tổng thống đừng tiếp tục với Giai Đoạn II, đó là tấn công vùng Lưỡi Câu.” Haldeman nói Kissinger “Người ta đòi truất phế Nixon ở ngoài kia kìa!” Kissinger nói “Từ trước đến giờ chưa bao giờ có sự kích động thổi phồng quá đáng như thế!” Haldeman trả lời “Một khi đem quân sang Cam Bốt tức là mình đã bành trướng chiến tranh ra khỏi lãnh thỗ VN. Điều này sẽ làm họ [phản chiến] sùi bọt mép, và quả đúng như vậy!” Nixon bắt đầu uống rượu nhiều và mất ngủ; những cú điện thoại gọi Kissinger trong đêm khuya với giọng lè nhè cảnh cáo là Kissinger sẽ chịu trách nhiệm nếu cuộc xâm lăng qua Cam Bốt thất bại là những dấu hiệu đầu óc Nixon bị căng thẳng. Ông tự giam trong phòng để soạn một diễn văn tường trình cho cả nước tối hôm 30 tháng Tư sau khi quân đội Mỹ đã vượt qua biên giới Cam Bốt. Ông ta hầu như thức trắng đêm trước để sửa đi sửa lại bài diễn văn và sau đó sửa soạn nhân viên cho một cuộc vận động giao tế công chúng để bào chữa những gì ông đang làm. Bài diễn văn được xem như là lời giải thích của Nixon cho quyết định xua quân sang Cam Bốt, đó là “để bảo vệ lính Mỹ ở Việt Nam và để bảo đảm thành tựu liên tục của chương trình rút quân và Việt Nam Hoá.” Tuy vậy, Nixon chỉ có thể bảo đảm ông sẽ rút thêm quân Mỹ nếu được trúng cử lần nữa; chương trình Việt Nam Hoá đã vượt khỏi sự kiểm soát của Hoa Kỳ. Ông tuyên bố rằng từ năm 1954, Hoa Kỳ dã “hoàn toàn tôn trọng sự trung lập của dân chúng Cam Bốt.” Ông nói nước Mỹ đã chưa làm gì để loại trừ những căn cứ của MBVN ở Cam Bốt mà ông tả là một vùng đất bao la cho địch quân sửa soạn và một bàn đạp cho những cuộc tấn công sang MNVN dọc theo biên giới dài 960 cây số. Nixon chấm dứt bài diễn văn bằng lời biện minh cá nhân cho những hành động của ông. Ông nói “Chúng ta sẽ không để bị sỉ nhục. Chúng ta sẽ không để bị thua.” Ông nói trước rằng hành động của ông sẽ đem đến thất bại cho đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử vào tháng Mười Một năm 1970 và sẽ làm ông thất cử, nhưng “Thà tôi làm Tổng Thống một nhiệm kỳ và làm những gì mà tôi cho là đúng còn hơn là làm Tổng Thống hai nhiệm kỳ với cái giá để nước Mỹ trở thành một cường quốc hạng nhì.” Ông so sánh quyết định của ông với quyết định của TT Wilson trong Thế Chiến Thứ Nhất, TT Roosevelt trong Thế Chiến Thứ Hai, và TT Kennedy trong vụ khủng hoảng hỏa tiễn Cu Ba. Bài diễn văn và cuộc tấn công sang Cam Bốt của Nixon là một trình bày đầy tính cách phô trương. Dường như là ông muốn để lại tiếng thơm để cho chính ông, cả nước và thế giới nhìn ông như là một vị tổng thống vĩ đại đã cứu rỗi nền văn minh nhân loại thoát khỏi nanh vuốt man ri mọi rợ. Tiếng tăm của Nixon đã không bị sứt mẻ sau cuộc hành quân vượt biên giới. Đa số dân chúng tán đồng quyết định đánh sang Cam bốt và khen bài diễn văn của ông. Nhưng họ không chia sẻ quan điểm của ông trong lúc này như là một cơn khủng hoảng quan trọng có tầm vóc quốc gia hay thế giới. Cho dù với sự đồng lòng chung chung từ dân chúng, những căng thẳng của cãi vã trong nước về Cam Bốt trở nên quá mức chịu đựng đối với Nixon. Những phản ứng lan tràn khắp nơi từ nghị viên, thượng nghị sĩ, sinh viên, giáo sư đại học làm Nixon nổi điên. Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện chấp thuận một kiến nghị để thu hồi Kiến Nghị Vịnh Bắc Phần cùng với một bổ sung cho dự luật chi phí cho quân đội Mỹ ở ngoại quốc. Kiến nghị này làm suy giảm rất nhiều những hoạt động ở Cam Bốt trong tương lai như hành quân, sử dụng cố vấn Mỹ, hay cung cấp hỗ trợ không lực cho quân đội Cam Bốt. Hiện giờ, những biện pháp của Thượng Viện chỉ là dọa dẫm. Nhưng nó cho biết trước phạm vi trong đó Nixon và Kissinger có thể bị hạn chế khi họ muốn làm gì ở Đông Nam Á sau này. Cuộc tấn công sang Cam Bốt chẳng bao lâu trở thành bất dụng. Vào cuối tháng Sáu [1969], sau khi quân Mỹ và VNCH rút về, quân chính quy MBVN trở lại những nơi ẩn trú và họ nới rộng kiểm soát trong vùng đông bắc Cam Bốt. Một phóng viên chiến tranh kết luận cuộc tấn công là một lỗi lầm nghiêm trọng với nhận xét: “Nó tàn phá một xứ sở vô tội … làm nản chí chương trình Việt Nam Hóa ở MNVN, thay vào đó, nó làm gia tăng sự thất vọng và ghê tởm trong nước Mỹ, vì thế, nó giúp lót đường cho Mỹ rút quân và chiến thắng của MBVN. Mặc dù Nixon sẽ luôn luôn từ chối cho cuộc công kích là một lỗi lầm, nhưng ông biết nó có kết quả tiêu cực nhiều hơn là tích cực, nhất là nó bơm sinh lực mới vào phong trào phản chiến. Vào ngày 4 tháng Năm, sau khi bốn sinh viên, gồm hai nữ, biểu tình chống xâm lăng Cam Bốt bị bắn chết bởi Vệ Binh Quốc Gia ở Đại Học Kent, tiểu bang Ohio, Nixon bị dằn vặt tội lỗi tự cho mình gián tiếp gây ra thảm cảnh. Haldeman ghi lại “Ông ta bị dao động rất nhiều … ông nói luyên thuyên về cách nào để liên lạc được với sinh viên, tránh được những vấn đề tương tự … Quyết định xua quân, diễn văn, kết quả sau thảm sát sinh viên, dân chúng nổi loạn, truyền thông, họp báo, đối đầu với sinh viên, v.v… tất cả đều trút lên Nixon. Ông ngủ rất ít trong một thời gian dài với kết quả là khả năng phán đoán và tính tình của ông đã bị ảnh hưỡng rất nặng nề.” Mười sáu tháng đã trôi qua kể từ lúc nhậm chức, cho dù với những lời tuyên bố can đảm về những thắng lợi trong chiến tranh VN và về những bước tiến để thay đổi toàn diện thế giới, Nixon là một người thất vọng và chán nản. Từ giờ đến cuối năm, ông sẽ đối diện với những vấn đề mới mà nó sẽ thử thách sự chịu đựng về tinh thần và thể xác của ông hơn bao giờ hết.
|