|
Sáu tháng đã trôi qua từ lúc Nixon nhiệm chức tổng thống. Cuộc chiến ở VN tiếp tục làm lu mờ Hiệp Ước Giới Hạn Vũ Khí Chiến Lược, chủ thuyết của Nixon về Á Châu, và sự liên hệ với Trung Cộng và Nga Xô. Chiến tranh VN là ưu tiên hàng đầu của Nixon vì những lý do như tổn thất nhân mạng Mỹ càng gia tăng, hy vọng cho một giàn xếp nhanh chóng không đi đến đâu, chia rẽ nội bộ Mỹ không thuyên giảm, và mối lo sợ của Bạch Ốc cho là đánh nhau ba năm nữa sẽ tàn phá nhiệm kỳ của Nixon. Nhưng không ai trong chính quyền có một khái niệm rõ ràng làm sao chấm dứt chiến tranh. Thương thuyết ở Ba Lê đã làm Kissinger “thất vọng sâu xa”, ông ta khuyên Nixon “trong lúc này, chúng ta phải chơi trò thật cứng rắn” và thúc dục leo thang hành động quân sự để ép Cộng Sản vào một thoả thuận, nhưng ông ta lại không biết hành động dưới hình thức gì. Vì ngần ngại không muốn gia tăng tổn thất Mỹ và khuấy động cảm tính phản chiến trong nước, Nixon đã không dùng một giải pháp leo thang tức thời nào cả. Nixon tin là nước Mỹ phải chứng tỏ là họ tha thiết hòa bình trước khi gia tăng bất cứ hành động quân sự nào. Vào ngày 11 tháng Bẩy, sau khi TT Thiệu tuyên bố những điều mà Nixon gọi là “một đề nghị bao hàm, xuất sắc, và công bằng cho một dàn xếp chính trị ở MNVN từ một chính trị gia sắc sảo.” Nixon nhấn mạnh “điều mong mỏi chân thành của hai chính phủ để thương thuyết một giải pháp danh dự và mau chóng cho cuộc chiến.” Cùng lúc đó, Nixon và Kissinger cũng cố gắng thuyết phục những người chống chiến tranh với câu “không còn gì để có thể thuyết phục đối phương nên thương thuyết trong thiện trí hơn bằng cách họ nhận thức ra dân chúng Mỹ đoàn kết sau một đề nghị hoà bình rộng lượng và hợp lý.” Kissinger bí mật cầu khẩn TNS George Aiken của tiểu bang Vermont (người đã từng nổi tiếng đề nghị Mỹ nên tuyên bố thắng trận để rút khỏi VN) kêu gọi Hà Nội đóng góp hòa bình cho phù hợp với những gì chính phủ Mỹ đã đề nghị. Kissinger nói với Aiken “trở ngại lớn nhất của chúng là khuyên can Hà Nội đừng nghĩ rằng họ cứ kiên trì ngồi chờ để dư luận Mỹ sẽ buộc chúng ta đi đến đầu hàng vô điều kiện.” Nếu các TNS chuộng hòa bình giúp thuyết phục MBVN suy nghĩ khác được thì đó “sẽ là hành động yêu nước cao cả.” Để chứng tỏ cho người Mỹ và Hà Nội biết là ông thật sự theo đuổi một thoả thuận hòa bình, Nixon viết trong một lá thư gửi HCM “để khẳng định, với tất cả lòng quan tâm, điều mong mỏi của tôi đi đến hoà bình công bằng…đã đến lúc xúc tiến tại bàn hội nghị để sớm đi đến một giải pháp cho cuộc chiến đau thương này.” Jean Sainteny, một nhà ngoại giao Pháp từng làm ở Hà Nội và phu quân của một cựu sinh viên của Kissinger trao lá thư cho HCM với lời nhắn là trừ khi có một bước tiến tại hội nghị trước ngày 1 tháng Mười Một, Nixon sẽ cảm thấy bắt buộc phải dùng đến “biện pháp có hậu quả trầm trọng và hữu hiệu.” Sainteny đồng ý làm con thoi cho hai bên nhưng ông rất nghi ngờ lời doạ nạt của Nixon sẽ có hiệu quả hơn tất cả những sức mạnh đã được dùng đến từ bốn năm rưỡi trước. Vào giữa tháng Bẩy, Nixon và Kissinger thấy tia sáng hy vọng khi phái đoàn MBVN ở Ba Lê dường như có dấu hiệu sẵn sàng “tìm hiểu thêm chi tiết về nội dung của vị trí của chúng ta trên một vài phương diện.” Kissinger diễn giải điều này là “thay đổi chiến thật quan trọng của Hà Nội.” Mặc dù ĐS Henry Cabot Lodge tường trình “Chưa bao giờ thấy giọng thương thuyết tốt đẹp như vậy ở Ba Lê,” một phân tích gia ở bộ ngoại giao cảnh cáo mặc dù điều này gợi “ý muốn khuyến khích đàm phán riêng,” nó “không nhất thiết báo hiệu bất cứ nhượng bộ đáng kể của Cộng Sản trong tương lai gần.” Kissinger cũng chia sẻ nghi ngờ này nhưng vẫn “bán tín bán nghi là sẽ có những tiến bộ nhanh chóng nếu có thể thuyết phục MBVN là chính phủ Mỹ thành thật.” Ông ta thúc dục Nixon chụp lấy một cơ hội nữa trên danh nghĩa [có thiện chí hòa bình] và vì không có một tiến triển thật sự nào ở hội nghị Ba Lê. Những cuộc thăm dò dư luận cho thấy ủng hộ chiến tranh tiếp tục bị soi mòn và điều này làm Nixon chịu để ý đến những cố gắng hoà bình rộng lớn hơn. Khoảng chỉ một phần ba dân số trong nước tiếp tục nhìn nhận chiến tranh VN là vấn đề sinh tử cho an ninh quốc gia Mỹ và hơn nửa cho đó là một lầm lẫn. Một thăm dò trong tháng Bẩy năm 1969 cho thấy 71 phần trăm dân Mỹ muốn tổng thống rút 100,000 quân khỏi VN trước cuối năm. Về phương diện giải quyết chiến tranh, chỉ có 38 phần trăm cho Nixon điểm cao, trong khi 53 phần trăm đánh giá “cùng lắm là có một ít khác biệt giữa cách tiếp cận của Nixon và Johnson đối với chiến tranh.” Cuộc chiến của Johnson đang trở thành cuộc chiến của Nixon, ông ta biết rõ rằng nếu không chấm dứt sự can thiệp của Mỹ vào cuộc xung đột trong vòng ba năm tới, ông ta sẽ cầm đầu một chính phủ tàn phế với ít triển vọng tái cử như trong trường hợp của Johnson vào năm 1968. Vì Hà Nội từ chối tiếp Sainteny và Nixon cảm thấy sức ép gia tăng phải phá vỡ bế tắc, ông ta bí mật gửi Kissinger đi gặp đại diện MBVN ở Ba lê. Ngày 4 tháng Tám, khi Nixon trên đường về Mỹ, Kissinger ghé Ba Lê dưới danh nghĩa tường trình cho viên chức Pháp về chuyến đi của Nixon. Đi theo Kissinger là phụ tá thân tín Tony Lake và Tướng Vernon Walters, tùy viên quân sự của toà ĐS Mỹ ở Ba Lê, người rất giỏi tiếng Pháp làm thông dịch viên cho các buổi họp. Kissinger sau này dùng Tướng Walters làm đường dây liên lạc với phái đoàn MBVN ở Ba Lê. Ông ta được ra lệnh phải dấu diếm vai trò trong cuộc thương thuyết với nhân viên tòa đại sứ, đại diện Mỹ ở bàn hội nghị, và cấp trên trong Ngũ Giác Đài. Kissinger gặp phát ngôn nhân của HCM trong một căn hộ của Sainteny tọa lạc trên đường Rivoli. Vì báo chí không theo dõi ông trong lúc này và vì không có hồ sơ ngoại giao chính thức, không ai biết ông đến nơi cư ngụ của Sainteny. Ông ta nóng lòng và hồi hộp trong vai trò người đi thương thuyết vì đặt chính sách là một chuyện nhưng thi hành chính sách lại là một thử thách khác. Thông minh và nhanh trí là hai bẩm sinh quý giá và hơn nữa là tài đức cần thiết nơi hàn lâm, nhưng dùng nó như lợi điểm trong cố gắng thuyết phục đối phương để nhượng bộ điều vì nó mà dân mình đã hy sinh lại là một chuyện khác. Kissinger không phải quan tâm về khả năng đại diện cho nước Mỹ. Trong khi ông rất giỏi về những đụng chạm khoa bảng tại Harvard hay những tranh dành trong bộ máy quan liêu, hậu quả chưa bao giờ là vấn đề sinh tử. Nhưng nó cũng là một màn giáo đầu hữu ích cho ông khi phải đối diện với những câu cãi trầy từ MBVN. Mặc dù đã chuẩn bị trước, Kissinger đứng ngồi không yên khi ông đến chỗ hẹn sớm nửa tiếng. Đại diện của MBVN là Mai Văn Bộ và Xuân Thủy, hai ông cán bộ gìà dặn này trong những tháng trước đã làm ngơ với những đòi hỏi của Mỹ về rút quân song phương và bầu cử tự do. Họ đến đúng giờ và gây ấn tượng cho Kissinger với “lòng tự hào và tự tin trầm lặng… Họ trông nhã nhặn, có kỷ luật, và vô cùng kiên nhẫn khi gặp đại diện của một cường quốc mạnh nhất trên thế giới.” Xuân Thủy thì “nhỏ con với khuôn mặt bầu bĩnh và một trí óc thông minh, lúc nào cũng mỉm cười ngay cả lúc tuyên bố những điều rất vô nhân đạo và thật xúc phạm.” Ông ta “lúc nào cũng lịch sự,” không để lộ “háo hức quá đáng” hoặc sốt ruột trong lúc trao đổi quan điểm kéo dài ba tiếng rưỡi. Dù Kissinger sau đó tả buổi họp như “một bổn cũ soạn lại” của MBVN, ông ta cho cuộc đối thoại là một dấu hiệu tốt nhất. Vì lý do bước tiến quốc gia và lòng tự kiêu, ông hăm hở tin là đã có tiến triển và nghĩ rằng những lời bình phẩm của MBVN có hàm ý nhượng bộ nào đó ờ bàn hội nghị. Kissinger viết trong bản tóm tắt của cuộc gặp gỡ: “Xuân Thủy không có phản ứng mạnh nào sau khi tôi phát biểu về sự cần thiết cho nước Mỹ dùng đến những biện pháp có hậu quả nghiêm trọng nhất nếu không có tiến triển quan trọng từ giờ cho đến ngày 1 tháng Mười Một…Xuân Thủy có vẻ như ám chỉ đến sự liên kết nào đó giữa rút quân Mỹ và quân của MBVN. Mặc dù ông ta mơ hồ về chi tiết, nhưng ý định thì đã rõ, ngay cả đáng kể.” Không phải chỉ một mình Kissinger cảm thấy có tiến triển ở Ba Lê: Tướng Haig nói Kissinger hôm 11 tháng Tám rằng buổi họp của hai phái đoàn sau đó vài ngày cho thấy MBVN có vẻ dục dịch vì cuộc họp trước đó [của Kissinger với họ] ở Ba Lê. Sau này nghĩ lại, Kissinger có thể hình dung ra là MBVN đã không cam kết một điều gì ngoài ý muốn bàn luận riêng với Mỹ trong tương lai vô định. Ông kết kuận sau này: “Xuân Thủy không có quyền thương thuyết. Công việc của ông ta [ở bàn hội nghị] là có mục đích tâm lý chiến.” Vào lúc đó, Kissinger không thể khẳng định là dọa nạt Hà Nội bằng gia tăng bạo lực sẽ không có tác động nào. Như Johnson trước đó, Kissinger và Nixon muốn tin tưởng Hà Nội sẽ không thể nào chịu đựng được sức mạnh của Mỹ. Nixon hy vọng là tình hình chiến sự im lặng trong tháng Bẩy “có thể cho thấy đối phương đang bị thua và họ muốn chấm dứt chiến tranh.” Kissinger nói Ngoại Trưởng Pháp, ông Maurice Schumann: “điều quan trọng là chúng tôi không để một nước nông nghiệp bé con làm xáo trộn quá trình thi hành chính sách trường kỳ của Mỹ trên toàn thế giới …thật là một điều không tưởng cho một cường quốc như Hoa Kỳ tự để cho MBVN phá hoại về phương diện chính trị.” Như Kissinger đã nhắc nhở Xuân Thủy nếu MBVN kéo dài chiến tranh để trở thành “Chiến Tranh Nixon”, họ sẽ tự hại chính họ. Kissinger tuyên bố “Nếu đây là Chiến Tranh Nixon, ông ta sẽ không để thua.” Tóm lại, vai trò của Mỹ trên thế giới đang bị thử thách và cái viễn ảnh bất an trong nước gây ra bởi hai chính phủ liên tiếp thua trận là điều không thể chấp nhận được. Vào ngày 11 tháng Tám, niềm hy vọng Hà Nội sẽ cúi đầu để đáp ứng với yêu cầu hòa bình cùng với những dọa nạt gia tăng hành động quân sự của Mỹ đã tan thành mây khói khi Cộng Sản phát động tổng tấn công vào hơn một trăm mục tiêu ở MNVN. Hôm 22 tháng Tám, Kissinger tường trình cho Nixon biết Cộng Sản tiếp tục tấn công khắp MNVN và Hà Nội vẫn giữ vị trí cố hữu ở hội đàm Ba Lê. Nếu Bạch Ốc cần một bằng chứng nữa để chứng minh Hà Nội chưa muốn hòa bình với bất cứ giá nào trừ khi những điều kiện của họ được thỏa mãn, thì đó là bức thư của HCM đến hôm 30 tháng Tám. Câu trả lời bất di bất dịch cho Nixon là: “Dân tộc Việt Nam chúng tôi…nhất định đánh đến cùng.” HCM đòi hỏi: nước Mỹ phải rút quân nhưng không kèm theo một hành động tương ứng nào từ Hà Nội, bỏ rơi TT Thiệu, và để người VN tự quyết định số phận của chính họ “không bị ảnh hưởng nước ngoài.” Lúc này Nixon cảm thấy ông ta bị vướng trong cái bẫy mà Johnson trước đó đã cố gắng thoát khỏi. Những lần ngưng dội bom, thăm dò hoà bình, và những đề nghị chấm dứt chiến tranh dường như không làm Hà Nội suy suyển. Giống như Johnson, lối thoát duy nhất Nixon nhận thấy để buông xuôi tất cả là càng dội bom và gây nhiều chết chóc hơn. Hầu hết các chỉ huy quân đội Mỹ tin rằng nếu giết đủ, MBVN sẽ nhượng bộ. Vào cuối tháng Tám, Nixon ra lệnh cho không tập thêm trên những căn cứ Cộng Sản ở Cam Bốt. Ông ta cũng tuyên bố Bạch Ốc sẽ nghiên cứu đơn phương rút quân thêm sau khi ông đi nghỉ hè về vào tháng Chín. Kissinger nói “Quyết định này làm Quốc Hội và báo chí bất bình.” Tờ Christian Science Monitor viết Nixon “đang đình trệ rút quân để thử nghiệm lòng kiên nhẫn của dân chúng.” TNS Kennedy “kết án chính phủ chỉ rút quân lấy lệ và nghe những lời khuyên dụ dẫn đến gia tăng chiến tranh.” Chính phủ đang đối diện với một sa lầy ở VN càng ngày càng sâu và có thể không thoát khỏi được. Kissinger thuyết phục Nixon lập nên Nhóm Nghiên Cứu Đặc Biệt để làm một “phân tích có hệ thống”, một điều Kissinger nghĩ mặc dù thiếu sót từ trước đến nay nhưng hiện tại nó có thể vạch ra cho họ những hướng đi rõ ràng hơn. Lời khuyến cáo này có chủ ý giữ hy vọng là khoa học xã hội có thể cứu vãn tình thế. Thật ra, ý tưởng thành lập nhóm này chỉ là lòng tự đại của một người khoa bảng [Kissinger] cũng mù tịt như mọi người không biết làm sao chuyển bại thành thắng ở MNVN. Mặc dù Nixon chấp thuận lời đề nghị của Kissinger, ông ta đã không làm gì để giảm bớt những bực tức hiện thời về VN. Ông than phiền với Kissinger “Thế là mình mất tác động ngạc nhiên” khi báo chí tiết lộ chương trình của Ngũ Giác Đài về giảm động viên vào tháng Chín để làm bớt biểu tình phản chiến sẽ xảy ra sau tựu trường. Tương tự, khi Bạch Ốc tuyên bố sẽ ngưng chiến tạm thời nhân dịp HCM qua đời ngày 3 tháng Chín, 1969, TT Thiệu đi ngược lại bằng cách đơn phương tuyên bố sẽ không làm theo. Đây là dấu hiệu của mối giao hảo sứt mẻ giữa Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn. Kissinger đánh hơi cảm thấy chính phủ Mỹ đang trên đà đi đến thất bại chính trị vì đường lối cai quản chiến tranh của họ, ông gửi Nixon một bức thư dài năm trang diễn tả những âu lo của ông về VN. Ông cảnh giác Nixon về áp lực chấm dứt chiến tranh nhanh chóng đang gia tăng và Việt Nam Hoá không phải là một giải pháp thỏa đáng cho vấn đề. Thật ra, nếu tiến triển như dự định, có thể Việt Nam Hóa sẽ gia tăng đòi hỏi rút quân toàn diện, giống như “nghiện ăn lạc rang, càng rút quân về thì dân chúng càng đòi thêm.” Lúc đó, Nixon sẽ đối diện với một lưỡng cực mới trong quần chúng, như Johnson đã từng bị kẹt giữa hai phe “Bồ Câu và Diều Hâu”, và sự chia rẽ nội bộ này sẽ khuyến khích Hà Nội cứ tiếp tục “ngồi ỳ thần xác.” Mặc dù Mỹ đã gây thiệt hại nhiều về quân sự, Hà Nội sẽ dựa vào “chiến thuật ‘trường kỳ chiến đấu’ ít hao tổn với mục đích để làm cho Mỹ thua về mặt tâm lý hơn là về mặt quân sự.” Có cách nào thoát khỏi song đề VN này? Kissinger trình bày bốn chọn lựa trước Nixon: Một, giữ chiến thuật hiện thời mà ông khuyên Nixon nên bỏ theo như những lý do được tả trong bức thư trên; hai, gia tăng thương thuyết mà ông cũng cho là lỗi lầm; ba, thúc dục Việt Nam Hoá, điều này Kissinger cũng khuyên nên bỏ vì nó có thể đi đến Mỹ đơn phương rút lui toàn diện làm cho MNVN sớm rơi vào tay MBVN; bốn, “gia tăng hành động quân sự trong khi vẫn thương thuyết và ngưng Việt Nam Hoá”, đây cũng là chọn lựa của Kissinger. Nixon ngả theo chọn lựa thứ tư. Và đúng ra, một chương trình phòng hờ đã có sẵn để có thể áp dụng sau ngày 1 tháng Mười Một. Chương trình này được đề ra bởi Hội Đồng An Ninh Quốc Gia vào tháng Chín, nó phản ảnh cho biết Kissinger không có khả năng nhận ra là “một lực lượng nhỏ bé như MBVN không có điểm gẫy.” Chương trình này được mệnh danh “Chiến Dịch Đường Xoáy” [Duck Hook], một “chiến dịch bạo tàn quyết liệt, dùng tất cả hỏa lực cần thiết để đạt đến cơn chấn động chính trị, quân sự, tâm lý tối đa.” Theo chương trình, bốn ngày đầu phản công sẽ bao gồm không tập MBVN và phong tỏa Hải Phòng. Sau đó sẽ nghỉ một ngày để thăm dò xem Hà Nội có chịu thương thuyết đứng đắn hay không rồi sẽ tiếp tục dội bom phá hủy đê sông Hồng, tấn công qua vùng phi quân sự, và làm gián đoạn đường bộ cũng như đường thủy của MBVN. Chiến dịch sẽ kéo dài cho đến khi MBVN đồng ý thương thuyết đàng hoàng. Không như Johnson trước đó chống lại mọi đề nghị dùng vũ khí nguyên tử, Chiến Dịch Đường Xoáy có thể gồm có bom nguyên tử. Robert Ellsworth, đại sứ Mỹ trong Khối Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương được nghe lại từ Larry Eagleburger là Bạch Ốc và nhất là Kissinger đang bàn về sử dụng vũ khí nguyên tử. Ellsworth nói với charles Colson, một thân cận của Nixon “Chúng ta sẽ ra khỏi VN trước năm. Nhưng Nixon sẽ là người thả bom. Ông ta sẽ thả bom trước cuối năm và chiến tranh sẽ chấm dứt.” Ngay cả bài diễn văn đã được soạn cho Nixon đọc trước khi thi hành chiến dịch để tuyên bố sự nhất quyết dùng sức mạnh của chính phủ Mỹ buộc Cộng Sản đi đến thỏa thuận. Vào cuối tháng Chín, Nixon nói với các nhà lãnh đạo của Đảng Cộng Hòa trong Quốc Hội rằng ông sẽ “không phải là vị Tổng Thống Hoa Kỳ đầu tiên thua trận.” Nixon không có ý định dùng đến vũ khí nguyên tử. Nhưng ông tin rằng đặt lực lượng nguyên tử Mỹ trong tình trạng báo động vào tháng Mười để đáp ứng với sự triển khai vũ khí nguyên tử gia tăng từ Moscow không những buộc Moscow vào thương thuyết vũ khí chiến lược mà còn làm cho họ sợ và nghĩ đây có thể là màn khởi đầu cho dùng vũ khí này ở VN. Nixon còn nhớ Eisenhower đã dọa dùng vũ khí nguyên tử với Trung Cộng để kết thúc chiến tranh Triều Tiên. Trong một cuộc họp của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia hôm 12 tháng Chín, Nixon cố gắng hoàn tất một vài ước định thực tế cho các lựa chọn của ông. Ông rất nghi ngờ Hà Nội quan tâm đến thương thuyết. Ông nói “Trong năm năm qua, chúng ta lầm.” Phil Habib, một trong những người trong nhóm thương thuyết của Mỹ ở Ba Lê chia sẻ quan điểm này. Theo ông, trong bốn mươi buổi họp, lập trường của Hà Nội là “không nhượng bộ tí gì.” Nixon hỏi “Thế thì tại sao họ tiếp tục đàm phán ở Ba Lê?” Bộ Trưởng Ngoại Giao Rogers trả lời “Vì họ không muốn mang tiếng là thiếu thiện chí trước dư luận quốc tế, và vì báo chí trong nước Mỹ, họ có điều kiện thuận lợi ở Ba Lê.” Nixon tham khảo các chỉ huy trưởng trong quân đội kết quả sẽ ra sao nếu Mỹ phát động một cuộc tấn công mới. Các vị chỉ huy nghi là sẽ không làm thay đổi tình thế, họ trả lời: “MBVN có thể tiếp tục. Giải pháp tấn công thả cửa trong hai tuần sẽ không phải là cú đòn giáng tử đối với họ.” Rogers đề nghị tiếp tục chương trình Việt Nam Hoá. Ông nói “Cho đến bây giờ, hầu hết dân chúng đồng ý với đường lối của chúng ta. Nếu tiếp tục rút quân về, dư luận sẽ hỗ trợ…Chúng ta không có nhiều chọn lựa. Nếu dân chúng nghĩ mình theo đuổi một thắng lợi về quân sự, họ sẽ bỏ rơi mình.” Nixon cho rằng hậu quả sẽ không lường nếu sự ủng hộ của dân chúng sụp đổ. Nó sẽ làm mất uy tín của Mỹ với Hà Nội và tín nhiệm với Sài Gòn. Tuy giữ im lặng xuốt hầu hết buổi họp, Kissinger đánh tiếng là ông hoài nghi về chương trình Việt Nam Hoá. Ông nói “Chúng ta cần một chương trình để chấm dứt chiến tranh, chứ không phải chỉ để rút quân về.” Tuy rất mong muốn áp dụng sức ép quân sự, Nixon đặt tầm quan trọng trên bản năng chính trị bén nhậy của ông: vì sợ chia rẽ chính trị trong nước, hơn là thua trận ở VN sẽ làm tổn hại đến thanh danh, ông tuyên bố rút thêm 40,500 quân từ VN trước cuối năm. Kissinger tin là nước Mỹ đang đi trên con đường rút quân đơn phương. Điều này làm ông bực bội và nản chí. Vì không thể bảo đảm là cuộc tấn công mới trên MBVN sẽ trói tay Hà Nội, Kissinger ở trong một tư thế yếu ớt chống lại quyết định của Nixon. Trong tháng Chín và Mười, trong khi chính phủ đang đương đầu với những dự định biểu tình phản chiến hàng tháng ở thủ đô được gọi là “Tạm Ngưng,” Nixon và Kissinger vẫn hy vọng là một dàn xếp trong danh dự có thể xảy ra; họ có thể làm im tiếng những chia rẽ quốc nội đang khuyến khích Hà Nội cứ mang hy vọng nước Mỹ sẽ rút lui đơn phương và khuyên Moscow ép Hà Nội nên uyển chuyển hơn ở Ba Lê. Thêm vào đó, hy vọng của họ tìm ra một giải pháp chấm dứt đánh nhau để đi đến một MNVN độc lập có phần nào dựa trên tin tưởng Nhóm Nghiên Cứu Đặc Biệt của Kissinger có thể đưa ra một chương trình hoà bình khả thi và dư luận thế giới đang đồng tình với nước Mỹ trong việc chấm dứt chiến tranh. Những hy vọng này lại càng được khích lệ thêm bằng những lời bóng gió của MBVN ở Ba Lê về những chương trình hậu chiến. Nhưng tất cả đều trông mong vào hão huyền. Cùng lúc với cố gắng gây hỗ trợ cho chiến tranh, Bạch Ốc cũng gia tăng áp lực với Moscow để ảnh hưởng Hà Nội. Nixon ra lệnh cho Rogers phải có thái độ lạnh nhạt khi hội thảo với Gromyko và “đánh tiếng cho ông ta biết là bế tắc ở VN được gây ra bởi bên Cộng Sản và nó làm tất cả những mối liên hệ Mỹ-Nga trở nên phức tạp.” Sonnenfeldt lập lại lời nhắn cho Gromyko khi nói chuyện với Georgi Arbatov. Ông ta than phiền rằng Moscow đang khích lệ Hà Nội cứ chờ chia rẽ trong dư luận Mỹ sẽ buộc Mỹ rút quân về nước. Sonnefeldt nói “Điều này là một vấn đề nguy hiểm.” Moscow hỗ trợ MBVN chống Mỹ là một trở ngại quan trọng cho cải thiện liên hệ giữa hai nước. Kissinger cũng nói với Dobrynin vài ngày sau đó “Đối với chúng tôi, VN là vấn đề tối quan trọng, Liên Xô đừng mong một đối xử đặc biệt nào cho đến khi vấn đề này được giải quyết.” Tuy vậy, Nixon và Kissinger nhận thức thấy chìa khoá của thương thuyêt thành công với Hà Nội là gây hậu thuẫn trong nước cho một kết thúc chiến tranh “trong danh dự” hơn là mong vào sự can thiệp của Moscow ở hội đàm Ba Lê. Kissinger muốn Nixon tuyên bố trong bài diễn văn được truyền hình trước hôm 15 tháng Mười là những người biểu tình chống chiến tranh đang “làm nước Mỹ chia rẽ và không thể giải quyết được vấn đề trên một căn bản hợp lý.” Hôm 15 tháng Mười, mấy trăm ngàn người trên toàn quốc tham gia các cuộc biểu tình chống chiến tranh mang tên “Tạm Ngưng”. Adam Walinsky, đồng nghiệp của Kissinger tại Harvard cầu khẩn ông ta phải hiểu là cuộc biểu tình này còn lớn hơn cả biểu tình năm trước [1968] ở Chicago, ông nói “chính phủ không thể cai quản một nước mà dân chúng chống đối như vậy.” Biết Kissinger có lỗ tai trâu, Walinsky nói thêm “Nixon hết thời rồi – ông ta phải biết là ông sẽ không trúng cử kỳ tới.” Lời nói của Walinsky được kiểm chứng bằng kết luận của một cuộc thăm dò dư luận Gallup: 56 phần trăm dân chúng chấp thuận một nghị quyết quốc hội đặt một thời khoá biểu cho Mỹ rút quân khỏi VN. Nixon và Kissinger vẫn không chịu chấp nhận ảnh hưởng của phản chiến mặc dù nó trở nên càng lớn mạnh. Kissinger trông cậy vào một quan sát của người bạn Anh: Việt Nam “không phải là một sê ri truyền hình có thể tắt đi khi khán giả trở nên nhàm chán.” Nixon ra lệnh cho Rogers nói với tờ New York Times là quan điểm phản chiến của họ làm giới hạn sức mạnh thay đổi dòng sự kiện và “họ chắc chắn đã không có ảnh hưởng nào với Nixon.” Ông cũng khẳng định điều này với John McCormack và Carl Albert, hai lãnh đạo của Đảng Dân Chủ ở Hạ Viện: “sẽ không để biểu tình phố xá định đoạt chính sách quốc gia” – vì nó đồng nghĩa với thắng lợi của “luật băng đảng.” Nixon nói với Hubert Humphrey hậu quả của phong trào biểu tình Tạm Ngưng là làm gia tăng thứ hạng dư luận đánh giá của ông từ 52 lên 58 phần trăm. Sau ngày biểu tình 15 tháng Mười, Nixon nhận thấy cần có diễn văn truyền hình cho cả nước. Trong mười ngày kế tiếp, ông không ngừng suy nghĩ về việc loan báo Chiến Dịch Đường Xoáy trong bài diễn văn. Ít nhất, ông muốn Hà Nội và Moscow hiểu Mỹ có thể gia tăng hoạt động quân sự. Để chứng tỏ, ông ra lệnh động binh trên toàn thế giới và gọi những “lực lượng có khả năng nguyên tử về căn cứ hành quân.” Nixon nói với Kissinger những biện pháp này cốt ý “làm gia tăng cường độ cho đến hôm 30 tháng Mười,” bao gồm thi hành chiến dịch không tập Thực Đơn nhiều hơn trên Cam Bốt và oanh tạc trên vùng phi quân sự “để cho họ biết là chúng ta đang trở nên hiếu chiến.” Ông cũng nói với Ngài Robert Thompson, một chuyên viên chống khủng bố, “vẫn còn số đông quần chúng không muốn nước Mỹ chịu trận” mặc dù 60 phần trăm dân chúng bây giờ chống lại việc Mỹ tiếp tục can thiệp vào chiến tranh. Với tất cả lời nói dao to búa lớn, Nixon quyết định không thi hành Chiến Dịch Đường Xoáy mặc dù Kissinger tin rằng “nếu không leo thang thì tổng thống sẽ là người thua.” Hầu hết các cố vấn của Nixon cho là chiến dịch này sẽ không làm gì được, ngược lại, nó sẽ làm hại uy tín chính trị của ông trong nước và ngoại quốc hơn là buộc Hà Nội đi đến hoà giải. Tương tự, sau khi biết được về chương trình leo thang vào tháng Mười, Ngoại Trưởng Rogers and Bộ Trưởng Quốc Phòng Laird khuyên Nixon đừng làm. Rogers khuyên chính phủ không nên làm ngơ những người chống chiến tranh và cả triệu người khác bằng những hành động quân sự chưa chắc đã có kết quả, nhưng nên cảm hóa những người phản chiến bằng cách thuyết phục họ là chính phủ chia sẻ mong muốn hòa bình với họ. Ngài Robert Thompson đồng ý với lời cảnh cáo của Rogers, leo thang sẽ gây rủi ro cho chính phủ đối với dư luận nước Mỹ và thế giới. Ông ta đoán là chương trình Việt Nam Hoá đem lại chiến thắng trong vòng hai năm. Mike Mansfield khuyên Nixon là tiếp tục chiến tranh sẽ “làm nguy hiểm đến tương lai của nước Mỹ” bằng cách đào sâu thêm những hố chia cách đắng cay trong nước. Phe thiên tả trong nước cũng ép Nixon nên bỏ chương trình leo thang. Họ dọa là khi Nixon đọc diễn văn, ông nên ngả theo chủ trương của bên Bồ Câu, đó là “rút quân về sẽ có hòa bình.” Báo chí cũng cảnh cáo nếu Nixon không làm theo bên Bồ Câu thì sẽ tạo nên “một thất vọng vĩ đại và … leo thang phong trào chống đối.” Nixon biện minh việc hoãn lại Chiến Dịch Đường Xoáy là ông hy vọng những bắn tiếng cho Moscow và gia tăng báo động nguyên tử có thể đủ để ép Hà Nội vào hội đàm nghiêm trang. Ông xem đây chỉ là đình chỉ tạm thời và lúc nào ông cũng có thể xét lại vào mùa hè năm tới khi ông đã tập hợp cả nước sau lưng trước mùa bầu cử năm 1970. Nhưng những lời nói dao to búa lớn này đã được nảy sinh ra từ tâm trạng thất vọng. Ngay cả cho đến tháng Sáu năm 1971, Nixon vẫn còn có tư tưởng cho Hà Nội dừ đòn. Ông ông vừa đập bàn vừa nói với Haldeman “Vào tháng Mười Một năm nay, tôi sẽ chơi trò mất dậy…chúng ta sẽ dùng không quân để phá hết đê điều, nhà máy điện, Hải Phòng, chúng ta sẽ san bằng cả nước.” Nixon còn nhớ, cho bài diễn văn ông đọc ngày 3 tháng Mười Một, Kissinger cổ võ Nixon phải có “thái độ thật cứng rắn vì nếu chúng ta chùn bước, Cộng Sản sẽ trở nên hoàn toàn tự tin họ có thể dùng dư luận để lèo lái chính sách ngoại giao của Mỹ.” Tuy vậy, Kissinger kể lại sau này “Rốt cuộc rồi Mỹ cũng phải bỏ chọn lựa quân sự vì nghĩ rằng chính phủ sẽ không thể giữ vững ủng hộ từ dân chúng trong thời gian cần thiết để thắng thế, vì hậu quả của nó không chắc chắn, và vì Sài Gòn chưa chắc đã sẵn sàng thay thế [lính Mỹ] nếu chúng ta thành công.” Những năm về sau, trước hậu cảnh nước Mỹ thất bại ở VN, Nixon và Kissinger hối hận họ đã không thi hành Chiến Dịch Đường Xoáy. Nixon nói “Nghĩ cho cùng, tôi nghĩ nước Mỹ đã nên làm. Lúc đó tôi sợ chiến dịch sẽ ảnh hưởng đến cơ hội cải thiện liên hệ giữa Mỹ với Nga Sô và Trung Cộng và tôi cảm thấy hoàn cảnh trong nội các không cho phép.” Ông sợ Rogers và Laird từ chức và “tôi chưa chuẩn bị cho vấn đề này.” Tương tự, Kissinger kể lại cho Bill Safire “Đáng lẽ chúng ta nên bỏ bom chết mẹ chúng nó ngay sau khi cầm quyền…Lúc MBVN khởi đầu tổng tấn công vào tháng Hai năm 1969, chúng ta đã nên có phản ứng mạnh mẽ, đánh bên Bồ Câu, bắt đầu dội bom và đặt mìn các hải cảng. Nhiều khi chiến tranh đã chấm dứt vào năm 1970.” Lối suy nghĩ hồi tưởng về quá khứ này đã bỏ sót khung cảnh trong đó Nixon và Kissinger quyết định bỏ Chiến Dịch Đường Xoáy. Ý kiến của họ vào lúc đó là phản chiến sẽ nổ bung vì chiến dịch tấn công này quá ồ ạt, và mối quan ngại này hiện thực hơn bất cứ lời đổ lỗi nào về sau cho là họ đáng lẽ đã thắng trận trong năm 1969 hay 1970. Sau tổng công kích Tết Mậu Thân vào tháng Giêng, tháng Hai năm 1968, tiếp tục hoạt động quân sự Mỹ ở mức độ cũ không còn là một giải pháp vững vàng cho cuộc xung đột. Trừ khi xua quân chiếm đóng MBVN, khó có người nào tin là dội bom thêm sẽ buộc Hà Nội chịu thua những đòi hỏi hoà bình của Mỹ. Diễn văn hôm mùng 3 tháng Mười Một phản ảnh tình thế lúc đó. Dù với những lời bàn về sử dụng hỏa lực để buộc Hà Nội đến một thỏa hiệp hoà bình, Nixon đã chọn con đường trung hòa giữa nhấn mạnh nỗ lực chấm dứt chiến tranh và lòng quyết trí hợp nhất nước Mỹ sau một dàn xếp để bảo đảm MNVN tự trị và để tri ân những hy sinh của quân đội Mỹ. Vài ngày trước khi đọc diễn văn, Nixon sai Haldeman động viên báo chí và dân chúng để hỗ trợ chính sách của ông. Ông cũng muốn Kissinger nhấn mạnh với các dân biểu và báo chí là nước Mỹ có một chương trình chấm dứt chiến tranh và họ nên giúp đoàn kết nước Mỹ đứng sau chiến lược hoà bình của chính phủ trước ngày biểu tình “Tạm Ngưng” hôm 15 tháng Mười Một. Diễn văn của Nixon vào buổi chiều từ Văn Phòng Bầu Dục là một cố gắng đầy ý nghĩa để trấn an dư luận Hoa Kỳ và thế giới là chính phủ Mỹ đang cố gắng hết sức đạt đến hòa bình. Vì tin rằng mạo diện trên truyền hình cũng quan trọng như nội dung của những lời tuyên bố, Nixon dùng tư thế đầy ấn tượng. Người ta kể ông có giọng nghiêm nghị, thái độ cân nhắc, trầm tĩnh, và vẻ mặt đanh thép. Ông ta muốn cho dân chúng biết những gì đang “thật sự” xảy ra ở Ba Lê và VN và “những chọn lựa” nào nước Mỹ có để đạt được “hoà bình theo Mỹ.” Rút quân nhanh chóng không phải là đáp số. Nó “sẽ là một tai họa không những chỉ cho MNVN mà còn cho nước Mỹ và nhân danh hòa bình.” Nó cũng chẳng khác gì so với điều mà Nixon tả là “thất bại đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ và sẽ có kết quả làm sụp đổ lòng tin cậy vào vai trò dẫn dắt của Mỹ trên toàn thế giới.” Bài diễn văn không đề cập đến một quan điểm là nước Mỹ có thể nâng giá trị vị trí hoàn cầu của họ bằng cách buông rơi một chính sách thất bại để dùng sức mạnh và nghị lực đó cho những điều có tính cách xây dựng hơn trong nước và ở ngoại quốc như de Gaulle đã từng khuyên. Vì sợ sẽ bị kết án là không chấm dứt chiến tranh trong điều kiện mong muốn, Nixon và Kissinger từ chối chấp nhận sự thật hợp lý này. Nixon kể lại những đề nghị hòa bình mà ông đã đưa ra cho Hà Nội nhưng không được đáp ứng. Ông nói về những khởi xướng bí mật dùng để thúc đẩy thương thuyết như bức thư gửi HCM nhưng bị bác bỏ. Ông công nhận “Không có một tiến triển nào” và đó hoàn toàn là lỗi của Hà Nội. Cộng Sản cứ tin rằng tất cả những gì họ phải làm là “chờ nhượng bộ kế tiếp của Mỹ, rồi lại một nhượng bộ nữa sau đó … cho đến khi họ đạt được tất cả những gì họ muốn.” Tuy vậy, ông không phải là người tuyệt vọng, nhất là khi tin vào Chủ Thuyết Nixon mà ông cắt nghĩa “sẽ chấm dứt chiến tranh không cần biết những gì xảy ra trên mặt thương thuyết.” Áp dụng thực tiễn đầu tiên của ý tưởng này là Việt Nam Hoá - một chương trình để cho MNVN chịu trách nhiệm đánh Cộng Sản và để bảo đảm rút quân Mỹ về sau khi quân đội MNVN thay thế họ. Nixon tuyên bố đây là phương thức đúng để chấm dứt chiến tranh. Ông sẽ không nhượng bộ một nhóm biểu tình thiểu số mà đòi hỏi rút quân vô điều kiện của họ sẽ làm tổn hại đến “tương lai của một xã hội tự do” của Mỹ. Thay vào dó, ông yêu cầu hỗ trợ từ “đại đa số công dân Hoa Kỳ thầm lặng.” Đoàn kết trong nước rất quan trọng cho hoà đàm hữu hiệu của Mỹ ở Ba Lê. Ông kêu gọi “Chúng ta hãy đoàn kết cho hoà bình. Chúng ta cũng hãy đoàn kết chống thất bại … MBVN không thể đánh bại nước Mỹ. Chỉ có người Mỹ mới có thể làm điều đó.” Bài diễn văn cho thấy Nixon nói như diều hâu nhưng hành động như bồ câu. Kết quả là ông không kiếm thêm ủng hộ quan trọng nào từ hai bên. Lời nói cứng rắn của ông làm cho phe yêu chuộng hoà bình nghi ngờ là ông sẽ không thi hành ý định chấm dứt chiến tranh như đã hứa, trong khi đó chương trình Việt Nam Hoá làm cho những người chủ trương leo thang hành động quân sự nghĩ rằng Nixon theo đuổi một chính sách dành cho dư luận mệt mỏi vì chiến tranh ở Mỹ hơn là một chiến thuật để thắng trong một cuộc chiến bất phân thắng bại. Nixon phát biểu sau đó là bài diễn văn của ông có ảnh hưởng lịch sử. Ông tin rằng nó đã đem đến một thay đổi rõ ràng đến cho thái độ của dân chúng. Số lượng thư từ và điện tín vượt hẳn những hy vọng thầm kín nhất của ông với số lượng thư lớn nhất chưa từng thấy dành cho một bài diễn văn tổng thống mà đa số là tích cực. Một thăm dò bằng điện thoại cho thấy 77 phần trăm dân chúng tán thành. Nixon nói “Tôi có hậu thuẫn của dân chúng để tiếp tục một chính sách chiến đấu ở VN và hoà đàm ở Ba Lê cho đến khi chúng ta có thể đi đến một kết thúc thành công và danh dự.” Nhưng trong hậu trường, Kissinger vẫn tiếp tục giống như trước khi có bài diễn văn, chứng tỏ là buổi trình bày trước công chúng của Nixon đã không mang lại một thay đổi nào đến cho cách đối phó với VN. Sau những tháng ngày thất vọng, Nixon tự lừa dối mình bằng cách nghĩ là ông đã đổi ngược tình thế trong việc chấm dứt chiến tranh. Nhưng hành động của ông và của Kissinger đã đi ngược lại hy vọng này. Cả hai đều biết rằng Việt Nam Hoá và ước vọng dư luận hoà thuận chỉ là những cây sậy yếu ớt họ dựa vào để với đến một thoả hiệp hữu lý. Vào ngày 6 tháng Mười Một, ba ngày sau bài diễn văn, Nixon và Kissinger trở về với những hành động kín đáo họ nghĩ cần thiết để thúc ép hòa bình, đó là dọa gia tăng bạo lực với MBVN và đòi hỏi Nga Sô tăng thêm áp lực với Hà Nội. Nixon muốn Rogers và Laird khởi xướng một hành động quân sự mà Haig tả cho Kissinger là “dùng sinh mạng lính Mỹ trong cố gắng đe dọa kẻ thù hoặc tạo ra cho Bạch Ốc một cớ để leo thang.” Không ai rõ Nixon nghĩ gì trong đầu với hành động trên nhưng điều rõ ràng là ông vẫn không nhìn ra đoàn kết nội bộ sẽ đủ để trói tay Hà Nội. Tương tự như vậy, khi Kissinger tiếp Dobrynin cùng ngày, ông ta lập lại là những cải thiện quan trọng trong quan hệ Mỹ-Nga Sô tiếp tục tùy thuộc vào tiến triển về VN. Dobrynin trả lời một cách hơi bất bình rằng ông ta không hiểu thái độ của Mỹ vì Xô Viết không gây khó khăn hay làm mất mặt cho Mỹ ở VN nhưng họ cũng không thể giúp Mỹ rút khỏi cuộc chiến mà họ tự chuốc lấy. Không ai trả lời câu nhận xét của Dobrynin. Vì cả hành động quân sự lẫn áp lực với Xô Viết không có vẻ đưa đến kết thúc cuộc chiến, và vì sự kiên nhẫn của dân chúng đối với lời kêu gọi hoà thuận cho chiến tranh có tác dụng lôi cuốn ngắn ngủi, Nixon và Kissinger cảm thấy họ bị giam hãm trong một tranh chấp đang thua dần. Và mặc dù khó đặt một tin tưởng lớn vào chương trình, tối thiểu nó đã cống hiến cho họ một mưu đồ giống nhau để rút khỏi VN trong khi chuyển trọng tâm về những thử thách về chính sách đối ngoại khác.
|