Chương Năm
Hy Vọng và Ảo Vọng

  Những thử thách mà Nixon và Kissinger phải đối phó trong nhiệm kỳ đầu tiên là Việt Nam, Nga Sô, Trung Đông, và Trung Quốc. Họ tin rằng nếu Nixon trúng cử và đi vào lịch sử, đây là những vấn đề đối ngoại thiết yếu họ phải giải quyết, hay ít nhất, làm giảm đe dọa cho an ninh quốc gia Hoa Kỳ.

  Kết thúc chiến tranh VN trong “danh dự” là nhu cầu cần thiết nhất của Mỹ. Chữ được nhấn mạnh ở đây là “danh dự.” Kissinger tin rằng Hoa Kỳ không thể thoả thuận với giá nào thấp hơn. Ông viết một bài trong tạp chí Ngoại Giao vào tháng Giêng năm 1969: “Điều phải làm bây giờ là tin tưởng vào những lời hứa của Mỹ…rút quân đơn phương hoặc một giải pháp dẫn đến điều đó, ngay cả không cố ý, đều có thể dẫn đến sự sói mòn tự chủ và một tình trạng quốc tế nguy hiểm hơn nữa.” Mặc dù Nixon và Kissinger tin vào điều này, nhưng họ cũng nhận thức rằng vì đã không thể chấm dứt chiến tranh, Johnson đã bị mất đi một nhiệm kỳ tổng thống và tiếng tăm trong lịch sử của ông có thể bị mang tiếng xấu. Nixon và Kissinger quyết trí rút quân khỏi Việt Nam để Mỹ khỏi hao tổn thêm và để bảo đảm không bị thua trận chính trị.

  Mặc dù trong lúc tranh cử tổng thống, Nixon có hàm ý là ông ta có một chương trình chấm dứt chiến tranh, nhưng đó chỉ là một cò mồi kiếm phiếu không hơn không kém. Sau khi trúng cử, ông ta mới bắt đầu thử tìm một công thức để chấm dứt sự xung đột này. Một tháng trước khi nhậm chức, ông ta nói với Hà Nội rằng ông ta sẵn sàng “thương thuyết nghiêm chỉnh” nhưng chỉ chấp nhận “một dàn xếp trong danh dự,” nghĩa là một MNVN tự lập để chứng minh cho sự hy sinh của Mỹ.

  Câu trả lời đầu tiên của Hà Nội cho tân tổng thống dập tắt mọi hy vọng cho một cuộc dàn xếp sớm. Miền Bắc VN nhất định đòi Mỹ rút quân nhưng không đả động đến việc rút quân của họ từ MNVN. Họ cũng nhất định đòi chấm dứt chính quyền TT Thiệu ở Sài Gòn. Vì Hà Nội quá bất di bất dịch, Nixon ban đầu từ chối bàn đến chuyện rút quân tại hội đàm Ba Lê. Vào tháng Hai, hội đàm bị bế tắc một cách vô vọng sau khi Nixon tuyên bố trong cuộc họp báo đầu tiên là Mỹ đòi hỏi rút quân song phương và thay đổi tù binh, nhưng Hà Nội từ chối hai điều kiện này.

  Nhưng Nixon đã không mảy may để ý đến sự bế tắc này. Ông ta nghĩ rằng cũng phải mất đến cả năm nữa mới đạt đến thỏa thuận và dân chúng cần phải biết đây là một nhượng bộ cho báo chí Hoa Kỳ đòi hỏi Hoa Thịnh Đốn phải mềm dẻo hơn trong cuộc thương thuyết. Mặc dù không chính xác lắm, cả Nixon lẫn Kissinger đều đồng ý là họ nên nói cho công chúng rằng “Chúng tôi biết chúng tôi làm gì, chúng tôi có chương trình và đã có vài tiến bộ.”

  Đôi khi Nixon tin rằng ông có thể dọa nạt Hà Nội. Ông hài lòng khi có một bản tường trình từ Ba Lê cho biết MBVN nhận thức rằng ông ta không bị sức ép từ quốc nội để nhanh chóng đi đến một thoả hiệp như Johnson. Nixon nói với Haldeman [Chánh văn phòng] rằng ông ta dựa vào cái gọi là “thuyết Người Điên.” Ông ta tin là Hà Nội sẽ nhìn ông ta như là một người sẵn sàng “làm bất cứ gì để chấm dứt chiến tranh. Chúng ta sẽ bắn tin cho họ biết là, trời ơi! Nixon là một người rất kị cộng Sản, không ai có thể cản khi ông giận dữ, - và tay ông đang để trên nút bấm bom nguyên tử - và chính Hồ Chí Minh sẽ đến Ba Lê nội trong hai ngày để van xin hoà bình.” Nhận xét của Nixon cũng không kém giật gân so với lời tuyên bố của Johnson vào năm 1965 ở Đại Học Johns Hopkins là HCM không thể nói không cho chương trình mở mang cả tỷ Mỹ kim của Mỹ.

  Giống như Johnson, Nixon đã đoán sai lòng quyết tâm của HCM và ban lãnh đạo của ông ở Hà Nội. Hằng chục năm đấu tranh đánh đuổi người Pháp và ý muốn thống nhất đất nước dưới sự cai trị của Cộng Sản đã làm chai đá Miền Bắc VN trước những cám dỗ và dọa nạt. Một HCM 79 tuổi là biểu tượng không những cho đấu tranh vì quyền tự trị của VN mà còn là cuộc nổi dậy của Cộng Sản đối với chủ nghĩa Đế Quốc. Mặc dù HCM qua đời năm 1969, những đệ tử của ông đã không phản lòng quyết tâm tiếp tục đấu tranh chống mọi can thiệp Tây Phương vào nội bộ của họ. Nixon thừa biết về những thất bại của Pháp và Mỹ ở VN. Thay vì khen sự hiệu nghiệm của người Việt, Ông đổ lỗi cho Âu Mỹ là thiếu quả quyết. Ông sẽ tránh lỗi lầm của người Pháp và của Johnson vì họ không đủ cứng rắn. Ông cho rằng ông có thể dọa Cộng Sản đến độ họ tin là ông có thể dùng sức mạnh đủ để chấm dứt chiến tranh theo kiểu Hoa Kỳ. Và nếu cần, ông ta sẽ dùng đủ quyền hành để mang lại thỏa hiệp.

  Để gây uy tín cho “thuyết Người Điên” của ông, Nixon tin là cần gia tăng áp lực quân sự trên Cộng Sản ở MNVN ngay lập tức, nhưng đồng thời không làm đổ vỡ thương thuyết. Ông ra lệnh cho Kissinger khuyến khích báo chí đăng là chính quyền “ở tầng lớp cao nhất đang nghiên cứu dội bom MBVN, cốt ý để cho biết là cuộc chiến sẽ có một chiều hướng mới rất nghiêm trọng nếu hoà đàm Ba Lê bế tắc.”

  Nixon yêu cầu Bộ Trưởng Quốc Phòng và Ban Tham Mưu đề nghị ra một cái gì đó để có thể đánh tiếng là họ nhất định ép MBVN trong thương thuyết ở Ba Lê. Nhưng họ cũng cần cẩn thận để không khơi lên những chống đối trong nước về những chiến dịch tấn công sang Lào và Cam Bốt. Họ cũng nghĩ trở lại không tập MBVN. Tuy nhiên, không ai nghĩ là tất cả những phương pháp này sẽ gây một ấn tượng mạnh cho Hà Nội.

  Mặc dù Nixon tuyên bố sau này là họ đã nghiên cứu nhưng nhanh chóng bãi bỏ “cú đòn Knockout” bằng cách phá hủy các đê điều ở MBVN hoặc dùng đến vũ khí nguyên tử chiến lược, không có một tài liệu nào chứng minh là hành động tột bực như trên được bàn đến. Nixon và Kissinger biết rằng bất cứ một cuộc leo thang xung đột nghiêm trọng nào cũng sẽ làm bùng nổ chống đối trong nước mà nó sẽ gây khó khăn cho chính phủ và cái viễn ảnh nhiệm kỳ thứ nhì của ông. Sự thật là Nixon và Kissinger đã không có một giải pháp tốt đẹp nào để chấm dứt chiến tranh ngoài cái dùng thêm sức mạnh. Điều này không khác gì với những gì Johnson đã thử trưóc khi nhìn nhận vào năm 1968 là sự chịu đựng của Hà Nội đi đôi với sự chống đối của quần chúng Mỹ đã khiến cho leo thang quân sự là một giải pháp không thoả đáng.

  Vào ngày 22 tháng Hai năm 1969, Cộng Sản bắt đầu cuộc tổng tấn công vào miền Trung của MNVN từ những căn cứ nằm trong Cam Bốt. Nixon nhất định làm một cái gì - bất cứ cái gì - để Cộng Sản thấy đó là đòn trả đũa hiệu nghiệm cho hành động hiếu chiến của họ. Ông đồng ý với đề nghị của Kissinger dùng B-52 để thả bom MNVN dọc theo biên giới Cam Bốt và một chương trình phòng hờ để dội bom “Cục R ở MNVN - Bản Doanh Trung Ương của lính chính quy MBVN,” mà người ta cho là nằm trong vùng “Lưỡi Câu” ở đông bắc Tây Ninh, gần Cam Bốt.

  Với tổn thất của Mỹ gia tăng và cho rằng Hà Nội đang thử thách cái quyết trí hỗ trợ MNVN của ông đã thuyết phục Nixon phải trả đũa bằng những cuộc không tập bí mật. Ông và Kissinger nghĩ “bí mật tuyệt đối” là điều cần thiết cho bất cứ phi vụ thành công nào trong đất Cam Bốt – không những chỉ bảo đảm phá hủy mục tiêu mà còn vì mối quan ngại không muốn làm cản trở hoà đàm Ba Lê vì họ đã làm áp lực với Hà Nội “ra vẻ đàm phán dưới mắt dư luận”. Lý do không tiết lộ bí mật là vì Bạch Ốc sợ dấy động biểu tình chống chiến tranh và làm cho những lời hứa đem lại hòa bình và chấm dứt rạn nứt trong nước lúc tranh cử trở thành những lời nói dối.

  Vì ngần ngại làm phiền chính phủ Nam Vang và sợ biểu tình trong nước, Nixon hoãn lại cuộc tấn công vào Cam Bốt. Quốc gia này từ lâu là một đường chuyển vận cho Cộng Sản: Trung Cộng chuyển vật liệu chiến tranh qua hải cảng Sihanoukville ở bờ biển tây nam của vịnh Thái Lan; và Hà Nội hỗ trợ quân lính của họ và Việt Cộng từ Đường Mòn Hồ Chí Minh chạy dài qua nam Lào và phía đông Cam Bốt. Nhưng hy vọng thuyết phục Hoàng Tử Norodom Sihanouk ngả về bên Mỹ và MNVN đã làm cho Cam Bốt trở thành một quốc gia trung lập và Nixon chần trừ không muốn từ bỏ chiến lược này. Hơn nữa vào tháng Hai năm 1969, Laird [Bộ Trưởng Quốc Phòng] và Rogers [Ngoại Trường] khuyến cáo rằng nếu dân chúng biết về không tập Mỹ ở Cam Bốt do người Cam Bốt hay MBVN tố cáo, nước Mỹ sẽ có những cuộc biểu tình chống chiến tranh mới và điều này cũng làm Hà Nội càng tin tưởng hơn là phản chiến trong nước Mỹ sẽ ép buộc đi đến một dàn xếp có lợi cho họ.

  Với ít lý do để kết luận là cuộc không tập sẽ đem lại kết thúc nhanh chóng cho cuộc chiến, Nixon quyết định chỉ không tập ở Cam Bốt trong trường hợp bất khả kháng hơn là thực tế cần kíp. Hơn vào đó, Nixon và Kissinger hy vọng Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ (CIA) có thể đút lót Sihanouk để ông ta bớt hợp tác với Hà Nội. Trong một cuộc điện đàm được ghi chép lại, Kissinger hỏi Helms [Giám Đốc CIA]: “xem có thể làm bất cứ gì – thí dụ như hối lộ - về vụ Cam Bốt giúp đỡ MBVN.”

  CIA cũng nghĩ đến chuyện hối lộ các viên chức Cam bốt để chận đứng việc di chuyển vũ khí từ đất Cam Bốt sang VN, nhưng họ kết luận rằng tiền hối lộ không thể nào bằng những lợi nhuận mà những viên chức này đang gặt hái được qua vận chuyển súng ống [cho MBVN]. Hơn nữa họ cũng không muốn chuốc lấy cái rủi ro chính trị mang tiếng làm cho Mỹ. Nixon và Kissinger dùng một kế khác để chiêu dụ Sihanouk hợp tác. Tuy là người vô tích sự và không tin tưởng được, họ cho ông là một chính trị gia khôn khéo đã lèo lái Cam Bốt thành một nước trung lập một cách mầu nhiệm. Dựa vào bản năng sinh tồn từng trải của ông, người Mỹ cố thuyết phục Sihanouk về những lợi điểm cho ông để Mỹ mở văn phòng đại diện ở Nam Vang và nhắm mắt làm ngơ những cuộc không tập trên quân chính quy MBVN đóng ở miền đông Cam Bốt, nơi mà chính dân chúng của ông bị đuổi ra.

  Trước khi bành trướng hoạt động quân sự, Nixon và Kissinger cũng cố gắng thuyết phục Moscow ép Hà Nội vào một cuộc dàn xếp. Trước khi Nixon nhậm chức, vào tháng Mười Hai, Kissinger có nói chuyện với một viên chức ngoại giao Nga Sô là ý muốn đàm phán về giới hạn vũ khí chiến lược của họ sẽ được đáp ứng nếu họ chịu hợp tác về Việt Nam và Trung Đông. Trong một cuộc họp hôm 17 tháng Hai, 1969, Đại Sứ Anatoly Dobrynin trấn an Nixon là chính phủ Nga Sô chia xẻ mối quan tâm với ông về mở đầu một kỷ nguyên thương thuyết thay vì đương đầu. Nixon nói rằng Việt Nam là chỗ để bắt đầu và yêu cầu Xô Viết “làm cho hội đàm Ba Lê ra khỏi bế tắc” Ông nói thêm “tiến triển về một lãnh vực thế nào cũng có ảnh hưởng trên tiến triển của các lãnh vực khác.”

  Vẻ đồng ý thương thuyết với Mỹ của Dobrynin làm Nixon và Kissinger hy vọng là họ có thể liên kết đàm phán giới hạn vũ khí với dàn xếp hòa bình cho VN. Nhưng đó chỉ là ước mộng giống như họ đã từng hy vọng là “thuyết Người Điên” đã có thể buộc HCM vào một thỏa thuận hòa bình. Sự giả sử của Nixon và Kissinger cho viễn ảnh về cái Kissinger gọi là “liên kết” không còn thực tiễn nữa. Malcolm Toon, một nhân viên chuyên về Nga Sô của bộ Ngoại Giao Mỹ có nói với Kissinger rằng Moscow hiểu ý của Nixon muốn liên kết tiến bộ của những vấn đề chính trị với tiến triển của đàm phán giới hạn vũ khí, nhưng Moscow ngần ngại nối hai vấn đề với nhau. Dobrynin nói: “Moscow không thể bị mua chuộc hay dọa dẫm.” Lởi phê bình của ông cho biết rõ Xô Viết am hiểu giới hạn ảnh hưởng của họ trên đồng minh Trung Đông và MBVN.

  Vì tình hình ở VN, Trung Đông, Trung Quốc và Liên Xô không cho Nixon một viễn ảnh tiến triển nhanh chóng về liên hệ quốc tế, ông ta quyết định làm một chuyến công du ở Âu Châu trong tám ngày từ ngày 23 tháng Hai cho đến ngày 2 tháng Ba. Chỗ dừng chân của ông là London, Brussels, Bonn, Berlin, và Ba Lê.

  Trong cuộc hội kiến tại Ba Lê với TT Pháp, de Gaulle khuyên Nixon: “Chấm dứt sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam còn hơn là kéo dài sự xung đột với kết quả không tốt. Chấm dứt chiến tranh sẽ làm Mỹ rảnh tay để cải thiện quan hệ với Moscow. Nước Mỹ có thể dàn xếp được vì sức mạnh và của cải của Mỹ quá to tát để làm điều đó trong tự trọng. Nên buông ra thay vì cố gắng để rồi bị sa lầy.”

  Đây không phải là điều Nixon muốn nghe. Ông nó với de Gaulle rằng nếu nước Mỹ không chấm dứt chiến tranh “một cách có trách nhiệm”, tiếng tăm của Mỹ sẽ bị tổn thương. Nhưng de Gaulle cho rằng tiếp tục chiến tranh còn làm tổn thương vai trò quốc tế của Mỹ hơn là nhanh chóng tìm một lối thoát.

  Đối với Kissinger, De Gaulle thẳng thừng hơn. Sau một bữa quốc yến, ông hỏi riêng Kissinger: “Tại sao Mỹ không rút khỏi VN?” Kissinger trả lời: “Rút lui bất ngờ sẽ có thể gây vấn đề cho uy tín.” De Gaulle hỏi “Ở đâu?”, Kissinger trả lời “Ở Trung Đông”. De Gaulle nói: “Thật ngộ! tôi nghĩ chính ở Trung Đông là nơi các kẻ thù của Mỹ mới không có uy tín.” Như Nixon và Kissinger đã nhận thức sau này, de Gaulle đúng: rút lui nhanh chóng ở VN có lẽ giúp thay vì làm tổn thương đến danh thơm của Mỹ.

  Thật là ngạc nhiên khi cả Nixon lẫn Kissinger không nói gì về thuyết Domino – nghĩa là sự thắng trận của Cộng Sản ở MNVN sẽ kéo theo những quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á. Ở trong nước Mỹ vào thời điểm 1969, đây không còn là một lời biện hộ được nhiều tín nhiệm. Điều mà Nixon và Kissinger hiểu là sự hiện diện liên tục của Mỹ ờ VN có liên hệ trực tiếp với an ninh quốc gia Hoa Kỳ; do đó, sinh ra lý do uy tín. Mất uy tín với đồng minh hoặc kẻ thù sẽ cản trở khả năng chống cộng sản của nước Mỹ trong chiến tranh lạnh.

  Lý do này đã không thuyết phục được de Gaulle và những người khác nhưng chính nhiều người Mỹ cũng ngần ngại chối bỏ nó. Điều ngạc nhiên là Nixon và Kissinger đã không nhìn ra cơ hội để thăm dò các quốc gia khác đánh giá việc Mỹ chấm dứt chiến tranh tức thời. Người ta cho rằng họ đã không hỏi vì đoán trước là câu trả lời sẽ đi ngược lại với những gì họ muốn nghe, và họ lao đầu vào một chính sách duy trì MNVN tự lập mà họ cho rằng sẽ bảo vệ uy tín của Mỹ.

  Sau khi từ Âu Châu về, Kissinger phê bình Ngoại Trưởng Rogers vì ông ta nói với đại sứ Nga Dobrynin là chính phủ Mỹ sẵn sàng đàm phán về chính trị VN với MBVN, MNVN và Việt Cộng. Kissinger than phiền với Nixon lời tuyên bố này là một lỗi lầm nghiêm trọng nguy hại đến khả năng xoay sở của Mỹ trong thương thuyết Ba Lê và mối liên hệ với Sài Gòn. Sau đó, Kissinger phản đối lời đề nghị của Rogers bằng cách nói với Dobrynin rằng chính phủ Mỹ vẫn thích đàm phán song phương với Hà Nội về việc rút quân, và các vấn đề chính trị thì để cho hai bên MNVN và MTGPMN.

  Trong hai tuần lễ đầu của tháng Ba, Nixon có những điều đáng lo hơn là làm trọng tài giữa một ngoại trưởng và một cố vấn an ninh quốc gia. Trong thời gian Nixon công du Âu châu vào tháng Hai, ông đã bất bình về cuộc tấn công của MBVN làm gia tăng tổn thương của lính Mỹ hơn gấp đôi, lên đến 453 người trong một tuần. Phóng viên Seymour Hersh cho rằng những cuộc tấn công này là những đòn trả đũa cho những hành động leo thang của Mỹ từ tháng Mười Một 1968 cho đến tháng Hai 1969. Trong một điện đàm giữa Nixon và Kissinger được phổ biến năm 2004, Bộ Ngoại Giao có trình bày với Nixon về vấn đề này nhưng ông bác bỏ và nói: “những người trong Bộ Ngoại Giao chẳng bao giờ thấy gì với thực tế.” Ông cho rằng những cuộc tấn công của MBVN là cái tát vào mặt ông để cảnh cáo rằng tân tổng thống Mỹ không có thế lực nào để thương thuyết một thoả thuận trong danh dự, nước Mỹ chỉ có một lối thoát duy nhất là rút quân về và để vận mạng VN cho người VN Bắc - Nam quyết định.

  Cho đến lúc này, Nixon đã trải qua gần một tháng vật lộn với cách phản ứng ra sao. Ông và Kissinger vẫn tin rằng phải giữ bí mật những cuộc không tập trên đất Cam Bốt, nếu không, nó sẽ làm bùng nổ chống đối trong nước. Do đó, tại cuộc họp báo ngày 14 tháng Ba, ông bình tĩnh tuyên bố ý định tiếp tục đàm phán Ba Lê để có thể đi đến một giải pháp. Ông nói thêm: “Phản ứng của tôi đối với cuộc tấn công của cộng sản lúc nào cũng chín chắn, cân nhắc, mặc dù theo nhiều người, quá thận trọng. Nhưng nó sẽ tiếp tục như vậy bởi vì tôi nghĩ đến hoà đàm mỗi khi tôi nghĩ đến một hành động quân sự ở VN.”

  Dấu hiệu duy nhất của ông trước công chúng về sự càng quyết tâm để đánh nhau cho đến một kết thúc thỏa đáng được biết đến trong câu trả lời báo chí khi được hỏi về số quân của Mỹ. Ông nói: “Trong tương lai gần, không có viễn tượng giảm số quân Mỹ.” Đối với những ai hy vọng có một kết thúc nhanh chóng cho sự tham dự của Mỹ, đây là một dấu hiệu không ổn vì Nixon không có một khái niệm làm sao đem hòa bình đến cho VN.

  Thật ra, Nixon biết là ông không thể duy trì mức độ chiến tranh hiện tại mà không tiêu hủy vai trò tổng thống như đã từng xẩy ra cho Johnson. Và vì thế, đã có những chương trình rút quân khỏi VN như Kissinger kể cho bộ trưởng quốc phòng Laird: “Nixon nhất quyết giữ kín chuyện này trong các cận thần và không muốn tiết lộ trước.”

  Về chuyện dội bom Cam Bốt, Nixon chỉ nổi cơn điên nhưng lại không có một chương trình hành động rõ rệt. Kissinger còn nhớ: “Bản năng của Nixon là chỉ muốn phản ứng mạnh mẽ với những thủ đoạn trêu tức của Hà Nội.” Trên đường đi Brussels, Nixon nóng lòng yêu cầu Kissinger ra lệnh cho Ngũ Giác Đài thi hành chương trình dội bom các nơi ẩn trú [của lính chính quy MBVN] trong lãnh thổ Cam Bốt. Tướng Haig và một trung tá không quân được triệu ngay lập tức đến phi trường Brussels để họp kín với Kissinger và Haldeman để bàn về chỉ thị hoàn toàn bí mật là Ban Chỉ huy Chiến Lược Không Lực (Strategic Air Command) không được biết gì về việc các phi công B-52 bị đánh lừa là họ đang dội bom những mục tiêu ở MNVN.

  Bí mật này xém bị coi là một hành động lừa dối nghiêm trọng. Người trung tá sau này kể nếu chiến dịch dội bom này bị “tiết lộ cho báo chí và dẫn đến biểu tình chống chiến tranh và chống Nixon … ông ta sẽ bị trách móc nặng nề.” Cũng may là người trung tá này cần nhiều thời gian để nghĩ ra kế đánh lừa các người chỉ huy trong không quân và vì Rogers chống lại ý tưởng này trong khi Laird lại hưởng ứng, Nixon trì hoãn quyết định dội bom. Trong hai tuần sau khi đi Âu Châu về, Nixon do dự có nên thi hành hay không mặc dù ông ta nóng lòng cho Cộng Sản một trận đòn nên thân. Ông nói với Kissinger: “sẽ không có một cuộc xuống thang nào hết, mình sẽ tiếp tục ra chỉ thị cho Wheeler [Tham Mưu Trưởng] đập thấy mẹ chúng nó!” Ông cũng bảo Kissinger rằng ông không thích ở trong vị trí phải nói “Không, có, không, có, hay có thể.”

  Nhưng Kissinger cũng là người làm Nixon do dự thêm khi ông cảnh cáo rằng dội bom ở Cam Bốt sẽ gây khó khăn nếu những cuộc nói chuyện riêng tư bắt đầu ở Ba Lê bên ngoài hành lang chính thức. Tuy nhiên, Nixon nhấn mạnh rằng ông sẽ không để yên cho Cộng Sản đá mà không có một phản ứng nào. Ông nói “chúng ta không thể tha thứ một hành động [tấn công ở MNVN] nào nữa mà không đánh lại … Tuy nhiên, nếu nó không đánh mình thì mình thua.” Thật ra, Nixon muốn một lý do để dội bom. Ông rất muốn chứng tỏ cho Cộng Sản biết rằng họ đang đụng đến một tổng thống sẵn sàng đánh bại họ cho đến khi đầu hàng.

  Cuộc tấn công của Việt Cộng vào Sài Gòn hôm 15 tháng Ba làm sáng tỏ vấn đề. Nixon vẫn chưa chắc chắn có một chương trình hành động hữu hiệu nào. Mặc dù đã ra lệnh oanh tạc các căn cứ lính chính quy Bắc Việt ở Cam Bốt, ông vẫn có những đa nghi cố hữu khi điện đàm với Kissinger. Ông hét trong điện thoại chiều hôm đó: “Chỉ nên báo cho tôi biết sau khi đã dội bom, lệnh này không được cãi.” Chín phút sau ông gọi lại để dặn là tất cả các nhân viên không ai được nói về các cuộc không tập này: “Không lời bàn, không báo trước, không bèm nhèm, không phản đối … Tôi nhấn mạnh điều đó, không ai được nói một lời nào, dù kín đáo hay công khai mà không được tôi cho phép trước.” Một phút sau ông ta lại gọi nữa để nói: “Cái nào bay được thì dồn vào MBVN … Lệnh này cũng không được chống. Tôi sẽ cho chúng nó [Cộng Sản và những người đa nghi trong chính phủ] biết ai là xếp ở đây.”

  Nixon dùng dao to búa lớn để che dấu tính đa nghi và lưỡng lự của mình. Kissinger cho biết câu mà Nixon thích nói là “Lệnh không thể cưỡng lại được” và những ai gần Nixon lâu ngày sẽ nhận ra đó có nghĩa là ông ta rất mơ hồ.

  Lệnh oanh kích trở thành một điều tự mãn trong chốc lát. Chiến dịch dội bom mệnh danh “Thực Đơn” với cuộc không kích “Bữa Ăn Sáng” hôm 18 tháng Ba vào sâu nội địa Cam Bốt ba dặm được Bạch Ốc cho là một thành công lớn. Hình như bom dội trúng các kho đạn, kho nguyên liệu và gây ra 73 vụ nổ phụ. Kissinger nói với Tướng Wheeler “Trên phương diện tâm lý, tác động phải mạnh lắm!”

  Mặc dù họ không có bằng cớ mục tiêu chính của không tập là Bộ Tổng Tham Mưu của quân MBVN bên Cam Bốt đã bị phá hủy, Nixon và Kissinger hài lòng khi thấy Cộng Sản và Cam Bốt im tiếng. Như họ [Nixon và Kissinger] đã lo lắng và sửa soạn đối phó trước, thay vì to mồn phản đối, cả Hà Nội lẫn Nam Vang đều ngậm miệng. Hình như MBVN giữ im lặng vì quan ngại không muốn công nhận sự có mặt của họ trên đất Cam Bốt và vì khả năng của Mỹ dùng đó làm một lý do để đưa quân tấn công trên bộ, điều này có thể làm Hà Nội mất một nơi trú ẩn hữu ích.

  Nixon và Kissinger cũng tin là cuộc oanh kích làm cho hoà đàm Ba Lê tiến triển. Hai ngày sau đó, Hà Nội chấp thuận hội đàm song phương tại Ba Lê, điều này dường như là kết quả của cuộc không tập. Kissinger nói với Nixon “Bây giờ mình biết là họ rất cần thương thuyết”, ý ông ám chỉ là vì dội bom, MBVN cảm thấy bắt buộc phải ngồi vào bàn hoà đàm.

  Nixon đồng ý. Ông nói với Kissinger là Hà Nội than thở với Moscow về cuộc không tập, họ cho đó là một hành động trả đũa cho cuộc tấn công của họ vào giữa tháng Ba. Kissiger trả lời: “Nếu Hà Nội không gặp khó khăn, họ sẽ không bao giờ đồng ý hội đàm riêng nhanh như thế.” Ông nói thêm “Nếu các chỉ trích trong nước để chúng ta yên trong sáu tháng thì chúng ta sẽ gặt hái được nhiều điều.”

  Đó chỉ là một ý nghĩ hão huyền. “Những chỉ trích trong nước” từ Quốc Hội, báo chí, và cả một dư luận dân chúng đang tăng gia đã không cho Bạch Ốc được hưởng thời gian im lặng vắng bóng biểu tình. Trong vòng một tháng sau đó, hội đàm Ba Lê lại cho thấy cái bất nhượng bộ của Hà Nội đối với chương trình hoà bình của Mỹ.

  Tuy nhiên trong lúc này, Nixon vẫn phấn khởi và nghĩ rằng hành động cứng rắn của ông đã đem lại kết quả mong muốn là Hà Nội đã có thiện chí hội đàm bí mật sau các cuộc dội bom. Ông cũng muốn tiếp tục dội bom và tuyên bố trong một buổi họp hôm 28 tháng Ba: “Sẽ không có xuống thang trừ khi có kết quả là hai bên đồng rút quân.” Khi quân Cộng Sản pháo kích Sài Gòn lần nữa hôm 31, Nixon ra lệnh cho Kissinger “Cho chúng nếm mùi lần nữa … nện chúng nó thật lực … Mình có vấn đề không làm cho chúng nó hiểu là mình không nhượng bộ.” Kissinger muốn oanh kích một nơi khác trên đất Cam Bốt.

  Mặc dù không có một phản ứng nào về vụ pháo kích hôm 31 và những lần sau đó cộng với tính bất di bất dịch của MBVN đòi Mỹ rút quân đơn phương, Nixon và Kissinger vẫn tiếp tục hội đàm như thể là họ sẵn sàng làm gãy ý chí của Hà Nội qua những hành động leo thang quân sự. Ngày 3 tháng Tư, Kissinger nói Dobrynin rằng: “TT Nixon nhất định chấm dứt chiến tranh bằng mọi cách.” Ông muốn Dobrynin hiểu đây không phải là lời nói không kèm theo hành động. Ông cũng nêu ra điều rất có khả năng là cuộc chiến kéo dài ở VN có thể khơi mào sự xung đột giữa Mỹ và Sô Viết. Ngày 15 tháng Tư, ông cảnh giác Dobrynin là những hành động của Mỹ ở VN có thể làm mối quan hệ giữa hai quốc gia thêm phức tạp và cản trở hội đàm về vũ khí chiến lược và hoà bình ở Trung Đông.

  Những dọa dẫm của Nixon và Kissinger quả thật là những lời nói rỗng tuyếch. Họ không có ý định đương đầu với Moscow vì VN hay tự ý đi ngược lại với nguyện ước của dân chúng Mỹ bằng cách công khai gia tăng chiến tranh với Hà Nội. Một ý định khác của Kissinger là đặt mìn phong tỏa Hải Phòng trừ phi hội đàm Ba Lê mang lại kết quả khả quan hơn. Lời dọa dẫm cũng cốt ý gây áp lực với Ngoại Trưởng Rogers và Bộ Trưởng Quốc Phòng Laird để nhấn mạnh rằng họ cần ủng hộ chính sách của Bạch ốc.

  Dầu sao đi nữa, Nixon và Kissinger tiếp tục nhìn nhận hành động quân sự là điều cần thiết để đi đến hòa bình trong danh dự ở Đông Nam Á. Vào tháng Tư, họ ra lệnh cho thêm những cuộc không tập mệnh danh là “Bữa Ăn Trưa” trên lãnh thổ Cam Bốt. Trong ngày 23 và 24 tháng Tư, họ gia tăng số máy bay B-52 từ 48 lên đến 90. Những lần dội bom này gây ra “150 vụ nổ phụ và 44 đám cháy.” Kissinger được báo cáo “đây là điều thành công nhất mà họ làm từ trước đến giờ.” Sự thổi phồng về những cuộc oanh tạc và tiếp tục vắng mặt của phản ứng chính thức từ MBVN và Cam Bốt đã khuyến khích Nixon ra lệnh thêm những phi vụ trong năm tuần lễ sau đó được Ngũ Giác Đài đặt tên một cách nhẫn tâm là Bữa Ăn Chơi, Bữa Ăn Tối, và Tráng Miệng.

  Những báo cáo của Tướng Abrams và đại sứ Bunker rằng “Thực Đơn là một trong những chiến dịch nổi cộm nhất trong tất cả cuộc chiến” đã khuyến khích hy vọng trong Bạch Ốc là chiến dịch oanh tạc sẽ làm Hà Nội uyển chuyển hơn trong hội đàm Ba Lê. Tất cả đều lầm. Dù ai có bàn luận về sự hợp pháp và hợp đạo đức và dù có những chỉ trích khắt khe sau khi bị tiết lộ vào năm 1973, những cuộc không tập này đã không đem lại một thay đổi quan trọng nào đến lòng quyết tâm chiến đấu của MBVN.

  Tin tức về không tập được đưa lên báo chí mặc dù chính phủ Mỹ vẫn dấu các cuộc không tập trên lãnh thổ Cam Bốt bằng cách ghi chép trên giấy tờ là trên MNVN và mặc dù Hà Nội và Nam Vang vẫn im hơi lặng tiếng từ bấy lâu. Ngày 9 tháng Năm, 1969, William Beecher, ký giả của tờ New York Times chuyên tường thuật từ Ngũ Giác Đài miêu tả trên trang nhất những cuộc dội bom bằng B-52 trên các kho tiếp liệu ở Cam Bốt. Nixon và Kissinger nổi điên và từ chối không bình luận về bài viết. Nhưng Kissinger gọi cho Bộ Trưởng Quốc Phòng Laird vì nghi là ông ta tiết lộ chuyện này, Kissinger hét trong điện thoại “Đồ chó đẻ, tôi biết ông là người nói ra, ông sẽ phải cắt nghĩa cho tổng thống.” Mặc dù Laird biết nhưng ông không phải là người tiết lộ, ông ta cúp máy.

  Nếu Nixon và Kissinger không làm chủ được những diễn tiến ở ngoại quốc, ít ra, họ hy vọng điều khiển chính sách ngoại giao từ trong nước. Hoặc ngắn gọn hơn, nếu họ không thể uốn nắn được những quốc gia khác theo ý họ muốn, họ lại càng khắt khe buộc bộ máy chính phủ và báo chí trong nước đi theo đường hướng của họ. Cách xây dựng chính sách đối ngoại của Nixon và Kissinger chưa bao giờ bình thường như họ giả vờ hay hy vọng như vậy.

  VN là một trường hợp điển hình. Trong bốn tháng đầu của nhiệm kỳ, một bầu không khí lạc quan và tự tin bao phủ khắp nước Mỹ vì viễn tượng chiến tranh sắp được kết thúc theo ý muốn. Nixon tràn trề nhiệt tình khi tiếp tân ban lãnh đạo của tuần báo Time và các đại gia của các tổng đoàn thương mại hôm 11 tháng Ba. Khi nói về ban chỉ huy quân sự và các nhà ngoại giao Mỹ ở VN, ông tuyên bố “họ là một nhóm cực kì giỏi … có thể hạng nhất”, trong khi “TT Thiệu là một lãnh đạo tài giỏi nhất mà MNVN có từ trước đến nay.” Mọi việc thì “tiến triển tốt đẹp ở VN hơn là mọi người ở Mỹ tưởng. Báo chí không tường thuật những ưu điểm hiện tại của quân lực Mỹ. Nếu sau này chúng ta thất trận, chúng ta thất trận ngay trên đất Mỹ chứ không phải VN … Theo phương diện quân sự, đã thấy ánh đèn ở cuối đường hầm,” mặc dù “sẽ cần phải có sự hiện diện lâu dài của quân lực Mỹ… TT Thiệu sẵn sàng chấp thuận Mỹ rút 50 nghìn quân trong năm 1969.” Đại diện tuần báo Time cùng các doanh nhân khác từng viếng VN gần đây chia sẻ nhận xét tích cực của Nixon.

  Suy nghĩ lạc quan của Nixon được dựa phần nào trên bản báo cáo của Bộ Trưởng Quốc Phòng Laird về những nhận xét của ông sau cuộc viếng thăm VN vào tháng Ba về: thành quả của chương trình bình định, gia tăng kiểm soát của chính phủ MNVN trong vùng quê, và gia tăng hiệu quả khả dĩ của quân lực MNVN với vũ khí tối tân và huấn luyện từ cố vấn quân sự Mỹ. Với Bộ Trưởng Quốc Phòng Laird dẫn đầu, chính phủ Mỹ bây giờ mới đồng ý thế nào là Việt Nam Hoá - đó là MNVN chịu trách nhiệm càng nhiều cho cuộc chiến.

  Việc Nixon đang chú ý đến ý tưởng Việt Nam Hoá này đã khuyến khích dư luận và các nhà truyền giáo Mỹ ở VN. Một cuộc thăm dò đăng trên báo Washington Post và Philadelphia Inquirer cho biết từ 34 đến 49 phần trăm người Mỹ chấp thuận rút 50 nghìn quân từ VN. Theo Mục sư Billy Graham, các nhà truyền giáo Mỹ ở VN lâu năm sau khi nói chuyện với “mấy trăm viên chức MNVN” khuyến cáo “nên động viên triệt để đồng minh VN của chúng ta để họ tự vệ cho chính họ.” Việt Nam Hoá cần phải thay thế Mỹ Hoá. Thật ra, đây là phương pháp độc nhất Nixon nhận thấy để thoát khỏi chiến tranh. Nhưng liệu có thành công không? Không ai dám chắc nhưng đó là phương tiện có lý nhất mà Bạch Ốc nhận thức để chấm dứt một cuộc chiến không còn đứng vững trên danh nghĩa chính trị - dù cho bất cứ cá nhân hay đảng phái cầm quyền nào.

  Nhưng Nixon cũng nghĩ không thể thốc dục Việt Nam Hoá. Dư luận Mỹ và Hà Nội cần phải được thuyết phục đây là một chương trình khả thi. Mặc dù sau tám năm cố gắng đào tạo quân lực MNVN để trở thành một lực lượng chiến đấu hiệu nghiệm với phí tổn hằng tỷ đô la và trên 35 nghìn sinh mạng lính Mỹ, người ta vẫn có một sự ngờ vực chính đáng.

  Việt Nam Hoá đã phần nào dựa trên một tính toán mờ ám như thể là một chiến lược không gì khác hơn ngoài việc sử dụng lá sung để che dấu thất bại của Mỹ và MNVN. Trong lúc tranh cử, Nixon đã từng nói với người soạn diễn văn của ông: “Tôi thường nói ‘kết thúc chiến tranh trong danh dự’, nhưng tôi không biết đó nghĩa là cái quái gì?” Nixon hiểu là ông không thể thắng cuộc chiến, nhưng ông cũng hiểu là ông không thể nói thẳng ra. Không những vì sự sống còn chính trị của chính phủ mà còn vì những lý do về tinh thần quốc gia, điều quan trọng ở đây là phải duy trì chuyện giả tạo là nước Mỹ đã chiến đấu một cuộc chiến thành công và MNVN sẽ bắt đầu tự chủ.

  Kết quả là vào giữa tháng Tư khi tuần báo Newsweek đăng một bài về rạn nứt giữa Bộ Quốc Phòng và Bộ Ngoại Giao về vấn đề VN, Nixon nói với các cố vấn an ninh quốc gia của ông “những chỉ trích đã lên đến mức nguy hiểm khi mà một Tổng Thống bị coi như mất kiểm soát trên nhân viên và dường như mạnh ai thì người đó đi đường của họ.” Ông nghĩ là cần phải có “một hướng đi đồng nhất và không được thay đổi.” Vào đầu tháng Năm khi Kissinger tường trình cho báo chí, ông trấn an “tổng thống đang theo đuổi một chiến lược đã được cân nhắc cẩn thận về VN”, “Hoà đàm Ba Lê tiến triển gần đúng như dự tính.” Tóm lại, câu nhắn nhủ ở đây là: chính phủ đang kiểm soát mọi sự kiện, biết đi hướng nào, và mong sẽ đạt đến một dàn xếp thỏa đáng sau đó.

  Ý định về VN của Nixon tự nó đã rõ ràng. Giống như Johnson trước đó, ông muốn là chiến tranh được kết thúc với sự bảo đảm tự lập cho MNVN. Để đạt đến điều này, Hà Nội đáng lẽ sẽ phải đồng ý rút quân song phương, và Việt Nam Hoá đáng lẽ sẽ phải là kết quả của MNVN thật sự đủ sức tự vệ chứ không phải vì Mỹ nhất quyết rút khỏi VN. Nixon dặn Rogers trước khi ông ta đi thăm Sài Gòn vào giữa tháng Năm: Việt Nam Hoá sẽ được thực hiện như là một hành động dũng mãnh hơn là yếu ớt. Rogers cần chuyển câu này đến công dân MNVN, toà ĐS Mỹ, viên chức quân sự, và báo chí. Nixon còn nói với Kissinger hôm 12 tháng Năm: “Khuynh hướng ở MNVN là đánh cho đến thắng, nhưng tôi và ông biết là điều này sẽ không xảy ra – không thế nào được, chính Tướng Abrams cũng đồng ý như vậy.” Kissinger phải dấu sự thẳng thừng của Nixon.

  Nixon và Kissinger đối diện với ba trở ngại rất lớn khi họ cố gắng để lại một MNVN tự trị sau khi rút lui: Hà Nội không có ý định kết thúc chiến tranh trừ khi Cộng Sản đoạt được kiểm soát cả nước, từ Bắc vào Nam; MNVN không đủ khả năng tự vệ hữu hiệu; và hầu hết dân chúng Mỹ không muốn đánh một cuộc chiến vô tận – phí tổn xương máu và của cải đã vượt khỏi cái giá mà người Mỹ muốn trả để giữ MNVN khỏi ách Cộng Sản.

  Luật sư Bạch Ốc, ông Leonard Garment khuyên Nixon vào giữa tháng Năm là tình hình chung trong nước Mỹ về VN là “sốt ruột.” Cả nước mong muốn từ bỏ sự can thiệp sâu xa của Mỹ trên toàn thế giới để trở về giải quyết những vấn đề xã hội trong nước. Garment cũng cảnh cáo Nixon đừng xin mọi người kiên nhẫn thêm. Nixon đồng ý, và đây có thể là tín hiệu ông ta đã hiểu tầm quan trọng về chấm dứt sự can thiệp quân sự vào VN.

  Vào ngày 14 tháng Năm, sáu ngày sau khi MTQGGPMN tuyên bố chương trình mười điểm để kết thúc xung đột, Nixon phác họa những điều kiện riêng của Mỹ để đi đến dàn xếp trong một diễn văn được truyền hình trên toàn quốc. Mặc dù Kissinger bảo đảm với báo chí và Quốc Hội là bài diễn văn đã được soạn trước, lý do khiến Nixon hành động ngay lập tức là vì Hà Nội đã khởi xướng cộng với áp lực của quốc hội và dân chúng đòi hỏi chính phủ cắt nghĩa ý định chấm dứt chiến tranh ra sao.

  Trong bài diễn văn, Nixon và Kissinger chú trọng về phương pháp để cuộc thương thuyết tại Ba Lê thoát khỏi bế tắc. Nixon nói “Đề nghị ở đây không phải thuộc loại ‘không mua thì thôi’, đây là một cố gắng có thiện chí, là điểm khởi đầu.” Nhưng Kissinger cũng không muốn bài diễn văn “nghe có vẻ như là Mỹ đã hết chịu nổi tiếng súng rồi. Vì chúng ta còn phải giữ một chọn lựa [leo thang] khác.” Nixon đồng ý: ông muốn cho Cộng Sản hiểu là nếu họ cứ tiếp tục có những hoạt động quân sự, Mỹ sẽ “đập và đập mạnh.” Nixon khuyên Kissinger khi nói chuyện với các thượng nghị sĩ nên giả vờ như rất yêu chuộng hòa bình nhưng vẫn phải gây ấn tượng là họ vẫn có một chọn lựa quan trọng khác, đó là dùng sức mạnh. Tuy vậy, cùng một lúc, dùng ngôn ngữ thách đố để trêu ngươi các người phản chiến trong nước thì cũng không phải là điều khôn ngoan. Kissinger trả lời: “Không cần che dấu dọa nạt, đằng nào bên kia cũng sẽ hiểu quan điểm của mình.”

  Đề nghị mười điểm của Cộng Sản và đề nghị tám điểm của Mỹ nằm trong diễn văn của Nixon không đem nhiều hy vọng đến cho một cuộc dàn xếp nhanh chóng. Đúng, Nixon đồng ý với một thoả thuận rút quân uyển chuyển hơn, nghĩa là lực lượng Mỹ có thể được rút về cùng lúc với quân chính quy MBVN, thay vì sau đó như Johnson đã đề nghị. Nhưng ngoài điểm này, cả hai bên vẫn bế tắc về điểm Mỹ từ chối rút quân nếu MBVN không nhượng bộ hay không từ bỏ đòi hỏi Mỹ phải bỏ rơi MNVN.

  Kiểu cách của Nixon vẫn như xưa mặc dầu ông tuyên bố rằng “đã đến lúc có những khởi xướng mới.” Ông nói: “Phải có một thoả thuận trong danh dự,” chứ không phải “một thất trận trá hình” có thể đe dọa quyền tự quyết của MNVN và “vì hy vọng trường kỳ cho hòa bình thế giới, môt cường quốc không thể nuốt lời hứa.” Ông tiên đoán là “đã đến thời điểm mà quân lực của MNVN có thể thay thế quân đội Mỹ ở một số trận địa.” Ông kết thúc bằng một cảnh cáo trực tiếp “Đồng minh chúng ta sẽ không bị bỏ mặc.”

  Một số người trong nước Mỹ xem bài diễn văn của Nixon như là “một thất vọng đắng cay.” Họ miêu tả chính xác chương trình tám điểm của ông không khác gì hơn những điểm của Johnson được hâm nóng lại. Phản ứng của Hà Nội cũng không đem lại hy vọng là Nixon đã tìm ra con đường dẫn đến hoà bình. Một phát ngôn viên của MBVN tuyên bố: “Chương trình của chính phủ Mỹ không phải để chấm dứt chiến tranh nhưng để thay thế cuộc xâm chiếm của lính Mỹ bằng cuộc xâm chiếm của lính bù nhìn cho Mỹ.”

  Bất chấp phản ứng của Hà Nội, Nixon và Kissinger tự cho là họ đã thực hiện một bước tiến quan trọng. Nixon tin rằng nếu bài diễn văn của ông không có tác động, đó là lỗi của báo chí Mỹ. Ông ta tiếc rằng đã không thuê một chuyên viên thượng hạng về liên hệ quần chúng để hằng ngày đánh bóng hình ảnh của ông.

  Những điều xảy ra về sau cho thấy là bài diễn văn không quan trọng, nhưng Nixon và Kissinger vẫn không muốn đối diện với những thực tế phũ phàng, đó là nước Mỹ đã bị triệt buộc vào một cuộc rút quân vô điều kiện và Cộng Sản sẽ cai trị MNVN. Nếu Kissinger vẫn cứ giả tạo khuyến khích hy vọng của Nixon sẽ đem lại hòa bình trong danh dự thì ông ta đang làm nguy hại đến tình trạng sức khoẻ trong nước và giảm sút sự nắm vững tình hình thế giới của Nixon. Đáng lẽ ra họ nên đối diện với sự thật đau lòng, đó là MBVN tin tưởng là MNVN không thể tự vệ được sau khi người Mỹ rút lui và dư luận Mỹ sẽ buộc Nixon phải từ từ giảm dần chiến tranh. Hà Nội tự tin là những tin đồn về Mỹ rút quân sẽ có thật và lời dọa nạt ngấm ngầm về gia tăng quân sự của Nixon chính ra chỉ là một trò chính trị để MBVN nhượng bộ ở hội đàm Ba Lê.

  Vào cuối tháng Năm, MBVN đáp lễ khởi xuất hoà bình của Nixon bằng cách gia tăng những cuộc tấn công ở MNVN. Để trả đũa, Nixon đồng ý cho thêm những cuộc không tập trên đất Cam Bốt. Ông ta cũng ra lệnh cho mọi người phải cứng rắn về VN. Một phụ tá báo chí tại Bạch Ốc nhắn với một người bạn Nga rằng dư luận Mỹ sẽ không gây sức ép trên Nixon để rút quân khỏi VN và Bạch Ốc tiết lộ tin tức [để đánh tiếng] là gia tăng tấn công [ở MNVN] làm trì hoãn rút quân ít nhất vài tháng.

  Những lời lẽ cứng rắn của chính phủ Mỹ có phần nào cốt ý làm vui lòng TT Thiệu; ông ta công khai đòi hỏi một cuộc họp thượng đỉnh với Nixon để khuyến dụ đừng giảm quân Mỹ. TT Thiệu muốn gặp Nixon ở Đảo Midway và muốn được xem như là một đồng minh hơn là một người yêu sách. Khi họ gặp nhau hôm mùng 8 tháng Sáu, TT Thiệu thấy ghế của Nixon rộng hơn ghế của mình, ông ta tìm trong nhà vị chỉ huy trưởng một ghế cùng bằng kích thước và đích thân khiêng vào phòng họp.

  Mặc dù có giọng cứng rắn và với sức ép của T Thiệu, Nixon nói với ông ta là sẽ tuyên bố rút 25 nghìn quân vào tháng Bảy. Một bài báo đăng trên Washington Post hôm mùng 3 tháng Sáu cho biết Nixon không còn một chọn lựa nào khác. Bài báo đăng lại lời nói của người làm trong Bạch Ốc: “VN là một trong những thứ mà ai đụng vào cũng bị thân bại danh liệt” và “mặc dù tổng thống biết mọi người đang nóng lòng muốn rút ra, nhưng muốn cũng chưa đủ.”

  Ngày 7 tháng Sáu, Nixon họp với ban an ninh quốc gia tại Honolulu, Kissinger ghi lại là quân lực Mỹ “tỏ ra tiếc nuối khi đề cập đến vấn đề [rút lui].” Dường như điều chắc chắn là “không thể thắng được và ngay cả kết thúc trong danh dự cũng có thể là vấn đề.” Rút quân được dựa trên cả hy vọng lẫn ảo vọng – hy vọng là Việt Nam Hoá sẽ thành công và ảo vọng là sau tám năm cố vấn và luyện tập quân lực MNVN để dẹp phiến loạn, họ có thể tự mình đứng vững trên hai chân.

  Không cần biết cả hai ông Nixon và TT Thiệu có ngại ngùng đến đâu về chuyện MNVN sẽ phải chịu mọi gánh vác trong chiến tranh, chẳng ông nào nghĩ là mình có một chọn lựa nào khác. Sau năm tháng tại chức, Nixon hiểu rằng tiếng tăm chính trị và cái tự tiện của ông để đạt được những thứ khác trong nước và ở ngoại quốc tùy thuộc vào sự nhượng bộ dưới áp lực dân chúng dể chấm dứt vai trò của Mỹ trong cuộc xung đột này. Vào tháng Ba, Thượng Nghị Sĩ J. William Fulbright [đảng Dân Chủ], Chủ Tịch Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện, và cũng là người kịch lịch chỉ trích chiến tranh đã đoán rằng “tuần trăng mật” của Nixon với chiến tranh sẽ không kéo dài bao lâu và cảnh cáo Nixon đừng nên để cuộc chiến trở thành “Chiến Tranh Nixon.” Năm mươi hai phần trăm dân chúng nghĩ cuộc chiến là một lỗi lầm. Đầu tháng Sáu, TNS Fulbright tuyên bố chính phủ Nixon chỉ còn một tháng nữa trước khi cả nước mất hết tin tưởng là Nixon có ý định thay đổi chính sách của Mỹ ở VN. Bộ Trưởng Quốc Phòng Laird nói: “tôi biết là chúng tôi không còn thời gian vì dân chúng sẽ không ủng hộ chiến tranh nữa.”

  TT Thiệu cũng hiểu rằng ông không có cách nào khác để cưỡng lại sự thay đổi chính sách của Mỹ, vì thế ông công bố chương trình rút quân Mỹ từng giai đoạn một là ý tưởng của ông. Theo ông, để đổi lấy sự hợp tác của MNVN, Nixon hứa là sẽ buộc Hà Nội rút quân khỏi MNVN, tiếp tục yểm trợ quân lực trong ba năm rưỡi nữa, và trợ cấp kinh tế trong nhiệm kỳ thứ hai của ông. Tuy vậy, đã không có một dấu hiệu nào cho biết Nixon có thể đạt được bất cứ điều gì ở trên, nhất là buộc MBVN rút quân.

  Kissinger thuật lại là khi buổi họp kết thúc, “Nixon tươi cười.” Ông ta thấy “bản tuyên bố là một khải hoàn chính trị.” Nixon sướng điên người khi TT Thiệu chấp thuận [những đề nghị của Nixon] cộng với ý nghĩ là bản tuyên bố đã làm những người phản chiến im mồm, ít ra trong lúc này. Nixon viết trong quyển nhật ký: “Henry, hầu hết tụi báo chí đang quê xệ vì dự đoán kinh khủng của họ về rạn nứt giữa Nixon và TT Thiệu đã không xảy ra.”

  Tuy thế, Nixon vẫn nghi ngờ cái tự tiện rút hầu hết quân lính Mỹ về nước mà không gây ra sự sụp đổ của MNVN. Khi tuần báo Newsweek tỏ ý ngờ vực về kết quả của cuộc họp Midway, Nixon ra lệnh cho Ehrlichman “loại tuần báo này ra khỏi nhóm thông tin bán chính thức.” Ông cũng ra lệnh cho nhân viên không được nói gì về những cuộc rút quân trong tương lai vì sợ dân chúng nghĩ rằng nước Mỹ sẵn sàng buông súng dù cho Cộng Sản không có tí nhượng bộ nào. Nixon cũng thúc dục Kissinger cảnh cáo Dobrynin là nếu không có gì nhúc nhích tại Ba Lê, nước Mỹ sẽ tự định đoạt lấy. Chính những sự dàn xếp này đã làm Nixon cảm thấy yên lòng về những điều ông nhận thức được đây là một chiến lược có nhiều phần thua.

  Ngày 19 tháng Sáu, sau khi được biết cựu bộ trưởng quốc phòng Clark Clifford sẽ đăng một bài báo nói về “chiến tranh đang thua”, về nước Mỹ sẽ không bị hề hấn gì nếu rút 100,000 vào cuối năm 1969, và về số quân tác chiến còn lại vào cuối năm sau [1970], Nixon công khai đặt vấn đề với sự phân tích của Clifford. Trong một cuộc họp báo, nixon tuyên bố có ý định vượt trên cả thời khoá biểu của Clifford, nhưng không phải vì cuộc chiến đã mất ý nghĩa mà nhờ vào Việt Nam Hoá đang thành công.

  Nixon hứa rút quân về sớm hơn đề nghị của Clifford làm chấn động Kissinger. Ông ta nghĩ lời hứa này chẳng khác gì với tiên đoán là MNVN sẽ mau chóng xụp đổ và nó sẽ được suy luận bởi TT Thiệu và những người khác ở Đông Nam Á đây là “rút lui đơn phương.” Kissinger lo lắng Nixon đã bí mật quyết định rút lui, nhưng Chánh Văn Phòng Halderman trấn an đây là trường hợp Nixon chơi lại Clifford.

  Haldeman đúng. Ông ta chép trong nhật ký là Nixon mất ngủ và thức trắng đêm để gọi nói chuyện với nhiều người về cuộc họp báo. Kissinger nhắc lại mối lo âu này trong hồi ký gần đây và nói rằng mọi cố gắng để xoay lời phát biểu của Nixon trở nên tích cực đều vô ích. Nixon đã giết chết mọi khả năng ép buộc Hà Nội rút quân song phương với Mỹ.

  Từ quan điểm của năm 1969, điều thông cảm được là Kisinger đã nghĩ những lời tuyên bố của Nixon làm nguy hại đến những cơ hội đi đến một dàn xếp thỏa đáng. Nhưng điều khó giải thích là tại sao mười năm sau Kissinger mới có quan điểm này [Kissinger viết hồi ký năm 1979]. Mơ ước để vẫn tin rằng - nước Mỹ có những giải pháp khác - họ đã có thể cứu vận mạng của MNVN - là một thí dụ nữa về mơ tưởng hão huyền. Đối với những người tự hào là luôn luôn thực tế như Kissinger, thật khó hiểu tại sao ông ta nghĩ rằng huấn luyện quân lính MNVN hay gia tăng hành động quân sự của Mỹ sẽ đem lại kết quả nào khá hơn những gì Johnson đã gặt hái được trong bốn năm trước.

  Vào lúc đó, Kissinger dấu Nixon và dân chúng là ông nghi ngờ cái khôn ngoan của rút quân. Kissinger không muốn làm mất hy vọng là một dàn xếp hòa bình vẫn còn có thể xảy ra; và ông cũng không muốn nói cho Nixon biết là bài diễn văn của ông ta là một hớ hênh. Thay vào đó, Kissinger tiếp tục ủng hộ Nixon một cách công khai hoặc ngấm ngầm.

  Khi ký giả Chalmers Roberts của tờ [i]Washington Post[/] hỏi Kissinger phải chăng Nixon “dâng hiến cho Hà Nội … một cuộc rút lui đơn phương,” ông trả lời, “tùy theo người đọc hiểu câu phát biểu ra sao.” Phần của công việc của Kissinger là bênh Nixon trước báo chí nhưng an ủi sau lưng là một chuyện khác. Ông nói với Nixon “Đó là một cuộc họp báo rất hữu hiệu,” và khen cách ông ta hành động sau bài viết của Clifford. Nixon hài lòng với những lời trấn an và tin rằng “cuộc họp báo đó có một tác dụng vững trên phương diện kiểu cách,” không ai biết ý ông muốn nói kiểu là thế nào. Ông khẳng định “Trong năm 1970, nếu chúng ta ở mức mà Clifford đề nghị [rút hết vào năm 1970] thì chúng ta đã đạt đến rồi.” Đây là một lời xác nhận rút quân đơn phương, có nghĩa MNVN sẽ bại trận.

  Nhưng rút quân nhanh chóng khỏi VN thì quá tệ, giống như chịu thua trận. Và ngay cả nếu Nixon có thể đổ lỗi tất cả cho Johnson, ông ta không nghĩ đây là một giải pháp thực tiễn cho vấn đề. Lý do Nixon đã không làm như vậy chính là vì ông và Kissinger thật sự lo lắng về những hậu quả trên thế giới sau những hành động trên hơn là lương tâm chính trị không cho phép. Như những biến cố sau này đã cho thấy, họ tin một cách sai lầm là bỏ mặc MNVN cho số phận sẽ mang hậu quả không lường đến cho chính sách ngoại giao Mỹ trên khắp thế giới, nhất là trong lúc đang đương đầu với chủ nghĩa cộng sản. Đó là một giả thuyết sai lầm với cái hậu quả khốc liệt bằng máu và tài sản cho Mỹ và dân VN, Bắc và Nam (hơn hai mươi nghìn lính Mỹ bỏ mạng trong nhiệm kỳ Nixon.)

  Đó là một bài học rất đắt một quốc gia phải trả khi người lãnh đạo cứ khư khư ôm lấy những hy vọng không tưởng mà sau đó chúng hoá thành ảo vọng.

  
Chương Bốn Mục Lục Chương Sáu

  

Đôi Bài Trùng Quyền Thế - Robert Dalleck