Chương Ba
Năm 1968

  Vào tháng Giêng năm 1968, khi Nixon quyết định ra tranh cử tổng thống lần nữa, ông ta biết rằng dù ông có nổi tiếng và chiến lược tranh cử có thần sầu cho đến đâu, hoàn cảnh mới là người trọng tài cuối cùng quyết định thua thắng. Và ngay đầu năm, những hoàn cảnh này có vẻ như cả thiên vị lẫn cản trở ông. Mặc dù Lyndon Johnson đánh bật Barry Goldwater trong cuộc bầu cử năm 1964 và thành tích thắng lợi quốc hội ngoạn mục trong 1965-1966, danh tiếng của Johnson đã xuống dốc rõ ràng trong ba năm trước 1968.

  Như chính TT Johnson tuyên bố, thủ phạm của sự xuống dốc này là “chiến tranh Việt Nam chó má,” một cuộc chiến hầu như bất tận đã tốn nước Mỹ hơn 25,000 nhân mạng và trên 100 tỉ đô la. Vào năm 1968, hàng triệu dân Mỹ nhìn cuộc chiến như một sự can thiệp sai lầm vào cuộc nội chiến ít liên quan đến an ninh sứ Mỹ hơn là quyền tự trị dân tộc của người Việt. Sự dẻo dai và quyết trí của Việt Cộng và lính chính quy Bắc Việt đã trở nên rõ ràng trong cuộc tổng công kích vào dịp Tết Nguyên Đán cuối tháng Giêng 1968, và làm cho cuộc chiến giống như là một bế tắc bất khả thắng soi mòn sự ủng hộ của dân Mỹ thường thường dành cho chính quyền trong thời chinh chiến. Sự rạn nứt nhân hòa này giống như lúc quân đội Mỹ thất bại trong trận chiến Cao Ly và lúc tiếng tăm chính trị trong nước của TT Harry Truman đang đi xuống.

  Nixon biết Johnson là một đối thủ đáng lo ngại mặc dù có những vấn đề riêng của ông. Johnson có nhiều cơ hội cho một nhiệm kỳ nữa với lợi thế đương nhiệm cộng với những đòn phép chính trị mà chính Nixon cũng từng thoải mái áp dụng. Tuy vậy, Nixon hy vọng lời đồn Johnson về hưu là sai. Vào năm 1966, khi đảng Cộng Hoà thắng mạnh trong Quốc Hội, Nixon là người cầm đầu chỉ trích chính sách đối nội và đối ngoại của TT Johnson. Khi tiếng tăm chính trị của Johnson xuống dốc thêm trong năm 1967 và đầu năm 1968, Nixon trở nên quả quyết hơn là ông có thể tranh cử với Johnson vào mùa Thu. Nhưng Johnson làm Nixon và những bình luận gia ngạc nhiên khi quyết định không ứng cử trong bài diễn văn ngày 31 tháng Ba; Johnson cũng tuyên bố giảm thiểu dội bom miền Bắc như là một màn dạo đầu cho thương thuyết hoà bình.

  Sự rút lui của Johnson nhắc nhở Nixon là cuộc đua vào Bạch Ốc có nhiều điều bất trắc. Đảng Dân Chủ có thể đề cử Thượng Nghị Sĩ Eugene McCarthy, TNS Robert Kennedy, hoặc Phó TT Hubert Humphrey - họ đều là những người khó đánh bại nếu Johnson thành công trong việc chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

  Lời của người dịch: Đến năm 1968, chiến tranh VN đã gây ra sự rạn nứt trầm trọng trong xã hội và chính trị nước Mỹ. Số quân lính Hoa Kỳ tại VN đã lên đến gần nửa triệu và số người tụ tập trong mỗi cuộc biểu tình trên khắp nước Mỹ phản đối chiến tranh cũng xấp xỉ gần bằng. Dân chúng đã chán ghét cuộc chiến và họ cho rằng Đảng Dân Chủ với TT Kennedy và Johnson là những người chịu trách nhiệm vì tin vào chủ thuyết Domino. Tình hình quốc nội trở nên rắm rối thêm khi Robert Kennedy bị ám sát ở Los Angeles và cuộc họp Đảng Dân Chủ ở Chicago năm 1968 trở thành một bãi chiến trường giữa những người biểu tình chống chiến tranh và cảnh sát. Sau khi mất đi Robert Kennedy, Đảng DC không còn sự lựa chọn nào khác ngoài đề cử Phó TT Hubert Humphrey ra tranh cử với Nixon của Đảng Cộng Hòa. Muốn tìm hiểu tư duy chiến tranh của giới trẻ baby boomer trong thời điểm này, đọc giả có thể tìm đọc quyển Boom, một best seller của Tom Brokaw.

  Điều rõ ràng cho Nixon trong lúc tranh cử là Việt Nam là một chủ đề chính và ông ta cần phải reo rắc hy vọng chính ông sẽ là người chấm dứt chiến tranh. Là một người cổ võ chiến tranh lạnh hạng nặng, ông đã từng ủng hộ Johnson trong việc gửi quân và chỉ trích ông ta vì không đánh bại Cộng Sản (“VN là một nút bấc trong chai bành trướng của Trung Cộng ở Á Châu” là câu nói nằm lòng của Nixon). Nixon nhận thức ra ông ta phải hứa chấm dứt sự can thiệp của Mỹ qua một thoả thuận có dàn xếp để gìn giữ sự độc lập của MNVN.

  Tuy có sự khác biệt giữa TT Johnson, ứng cử viên Humphrey, và Đảng Dân Chủ về chính sách Hoa Kỳ đối với VN, điều này không bảo đảm là Nixon sẽ đề cập đến vấn đề này một cách dễ dàng. Vào tháng Ba ở New Hamshire, sau khi Nixon hứa là sẽ “chấm dứt cuộc chiến và thắng lợi hoà bình ở Thái Bình Dương”, các nhà báo đã ép ông cắt nghĩa làm sao có thể đạt được hai mục tiêu này. Mặc dù ông không bao giờ nói đến “một chương trình bí mật để chấm dứt chiến tranh”, Nixon chỉ đề cập đến bảo đảm hoà bình và an ninh. Ông ta nói qua loa về tận dụng “vai trò lãnh đạo về kinh tế, chính trị, và ngoại giao,” và nhấn mạnh về sự cần thiết gây áp lực với Moscow như “tác dụng đòn bẩy” với Miền Bắc VN để làm “chìa khoá cho hoà bình."

  Tuy nhiên. Nixon từ chối cung cấp chi tiết làm sao để chấm dứt cuộc xung đột và nói thêm rằng nếu thổ lộ những gì ông định làm, “vị trí thương thuyết của ông sẽ bị tổn thương nếu ông được bầu làm Tổng Thống.” Một nhà bình luận nói “Che dấu trong những câu phát biểu là sự thay đổi tư duy rõ ràng của Nixon về VN. Ông ta không còn kêu gọi chiến thắng và leo thang. Khác hẳn từ trước cho đến giờ, ông ta gợi ý thông đồng với Liên Xô. Lần đầu tiên ông dùng đến chữ “hoà bình trong danh dự” thay vì “hòa bình trong chiến thắng.” Và hơn nữa, như những biến cố sau này cho thấy, Nixon đã trải qua bốn năm kế tiếp để tranh đấu cho nước Mỹ và VN khỏi hứng chịu một thất bại nào.

  Sau khi Johnson tuyên bố giảm dội bom và thương thuyết hoà bình sơ bộ đã bắt đầu tại Ba Lê, Nixon giữ im lặng không nói gì về VN với mục đích là để bên Johnson không có lý do phê bình Nixon “xía vào vấn đề vì phân chia đảng phái”. Nixon tuyên bố “Theo đuổi hoà bình quá quan trọng cho trò chơi chính trị thường ngày”. Nhưng Nixon cũng là một người xảo quyệt, nhất định ông ta phải có một chương trình chấm dứt chiến tranh nào đó để thuyết phục cử tri độc lập.

  Và dĩ nhiên ông cũng không im lặng lâu. Vào cuối tháng Chín sau khi Humphrey tuyên bố sẽ mềm dẻo hơn Johnson để chấm dứt chiến tranh bằng cách hứa có hoà bình vào tháng Giêng 1969, Nixon lo sợ là chính phủ Johnson sẽ ra một đòn ngạc nhiên vào tháng Mười, đòn này sẽ hất chủ đề hoà bình ra khỏi tay Nixon và nhất định giúp Humphrey đắc cử. Điều làm Nixon lo lắng thêm là kết quả thăm dò bầu cử trong tháng Mười cho biết hai phần ba dân chúng ngả về ứng cử viên nào hứa bắt đầu rút quân Mỹ về vào tháng Giêng 1969. Kết quả thăm dò cũng cho biết diễn văn về hoà bình của Humphrey vào tháng Chín có hiệu quả. Ông ta đang thu nhỏ khoảng cách chạy sau Nixon từ điểm 15 phần trăm vào ngày 29 tháng Chín cho đến hai phần trăm vào ngày 2 tháng Mười Một. Trong những tuần lễ tranh cử cuối cùng, vì muốn chặn trước hoặc vô hiệu hoá một khởi xướng hòa bình có thể làm lệch cán cân về phía Humphrey, Nixon muốn biết những tin tức tay trong về chiến dịch hoà bình của Johnson.

  Người mà Nixon cần đến chính là Kissinger.

  Với tất cả hy vọng để trở thành một nhân viên dẫn đầu về chính sách ngoại giao trong chính phủ sắp được bầu lên, Kissinger tin rằng ông cần chứng minh cho ban tranh cử của cả Nixon và Humphrey giá trị thực tiễn của ý tưởng của ông thay vì chỉ mạnh mồm. Với kết quả là vào tháng Chín (1968) sau đó, trên đường đi họp ở Anh Quốc, Kissinger ghé qua Ba Lê để bàn với nhân viên của phái đoàn hoa Kỳ về đàm phán hoà bình Việt Nam. Ai cũng nghĩ Kissinger là một người đắc lực, và khi Johnson hỏi Ngoại Trưởng Dean Rusk về cảm tưởng của ông ta về Kissinger vào tháng Mười 1968, Rusk trả lời: “Lý thuyết nhiều hơn thực hành. Kissinger cư xử thành thật trong hội nghị Ba Lê.” Walt Rostow thêm vào: “Henri là một người liêm chính và đứng đắn.” Nhưng ông ta “không thông hiểu sự khẩn cấp ở Á Châu.”

  Hình như không một cố vấn nào của Johnson hay Humphrey biết Kissinger cũng đang kể cho những cố vấn của Nixon những gì ông biết ở Ba Lê. Theo William Bundy (sử gia chuyên về chính sách đối ngoại của Nixon), John Mitchell (xếp của ban vận động tranh cử của Nixon và Bộ Trưởng Tư Pháp sau này) là người móc nối với Kissinger làm tư vấn bí mật trước khi ông đi Ba Lê. Theo Nixon kể, ngày 26 tháng Chín, sau khi trở về từ Âu Châu, Kissinger gọi điện thoại cho Mitchell tường thuật: “có gì lớn lắm về VN đang xảy ra”. Kissinger cũng khuyên Nixon nếu có tuyên bố những gì về VN trong những tuần sắp đến, ông nên tránh đề cập đến bất cứ những ý tưởng hay đề nghị mới nào. Nixon quả quyết là “Kissinger rất dè dặt về lời khuyên trong lúc tranh cử. Nếu có những chi tiết về hoà đàm, ông ta không chia xẻ với chúng tôi. Tuy nhiên Kissinger nghĩ ông ta là người trong sạch và có trách nhiệm khi khuyến cáo tôi không nên tuyên bố điều gì mà nó có thể bị làm hại bởi cuộc thương thuyết mà chính tôi cũng không biết gì.”

  Trong năm tuần kế tiếp, Kissinger nói chuyện với Mitchell ít nhất hai lần để báo rằng cuộc dội bom Bắc Việt sẽ ngưng vào giữa hay trước cuối tháng Mười. Nixon kể rằng Kissinger còn nói “ngưng dội bom sẽ đi chung với hành động ngoại giao rầm rộ ở Ba Lê mặc dù nó chẳng có ý nghĩa gì ngoài cái làm cho vẻ quan trọng.” Kissinger đoán là Johnson sẽ có ý định gì đó trước bầu cử. Nixon nhận được tin tức tương tự từ Bryce Harlow, một cố vấn tranh cử. Harlow tuyên bố là ông có tay trong ở Bạch Ốc và người này cho ông biết về mỗi cuộc họp, ai tham dự, họ sẽ làm gì và ông đều báo cho Nixon biết.

  Cả Kissinger lẫn Harlow đều đoán đúng hành động quan trọng của Johnson trước ngày bầu cử 6 tháng Mười Một: Ngày 31 tháng Mười, sau khi Hà Nội hứa sẽ đáp ứng với ngưng dội bom bằng cách cho Miền Nam VN một chỗ trong hội đàm Ba Lê, Johnson tuyên bố ngưng hẳn không tập trên toàn thể Miền Bắc VN. Theo phía Nixon, lời tuyên bố của Johnson là một cố gắng vào giờ chót để dồn phiếu bầu cử về phía Humphrey. Nhưng Johnson ít quan tâm về Nixon hay Humphrey, ai sẽ kế vị ông, nhưng nhiều hơn về cải thiện tiếng tăm lịch sử bằng cách thiết lập hoà bình. Nhưng sự từ chối chấp nhận kết thúc tranh cử nhanh chóng của Nixon dồn Johnson trở về phe Humphrey.

  Vì tin rằng lý do chính trị thúc đẩy quyết định ngưng dội bom của Johnson, Nixon không một chút do dự ép Nguyễn Văn Thiệu của chính phủ MNVN từ chối lời yêu cầu từ Hoa Thịnh Đốn để bắt đầu tham dự vào hoà đàm Ba Lê vào ngày 2 tháng Mười Một, ba ngày trước khi bầu cử TT Mỹ. Người nào có liên quan đến cuộc thương lượng này cũng nghĩ rằng tiến triển của hoà đàm tùy thuộc phần nào vào sự có mặt của MNVN tại Ba Lê, và hầu hết mọi người làm cho ban tranh cử của Nixon và Humphrey, cũng như những người quan sát bên ngoài đều nghĩ rằng hy vọng hoà bình nổi lên có thể ảnh hưởng đến kết quả bầu cử TT càng ngày càng trở nên sát nút.

  Từ lúc ban đầu ra tranh cử, Nixon đã nhận thức là một dàn xếp hoà bình hay ngay cả chuyển động quan trọng về hướng đó đều là vấn đề sinh tử cho hy vọng của Humphrey vào tháng Mười Một. Vì thế, vào tháng Bẩy 1968, Nixon băt đầu khuyên dụ MNVN từ chối lời mời tham gia vào đàm phán Ba Lê đang xảy ra. Trong tháng đó, tại một căn nhà ở New York, ông ta và Mitchell gặp Đại Sứ MNVN ở Mỹ, Bùi Diễm và Anne Chennault (Chen Xiangmei), Đồng Chủ Tịch của Hội Phụ Nữ Cộng Hoà và quả phụ của cố Đại Tướng Claire Chennault. Nixon muốn bà Chennault làm “đường dây liên lạc với TT Thiệu qua ĐS Bùi Diễm.” Bà nhận lời và thỉnh thoảng báo cáo cho Mitchell rằng TT Thiệu không có ý định tham dự hoà đàm trước khi Nixon hy vọng làm tổng thống.

  Ngày 31 tháng Mười, sau khi Johnson tuyên bố ngưng dội bom, Mitchell gọi cho bà Chennault để nói, “Anna, tôi nói với bà với tư cách của ông Nixon. Điều quan trọng là những người bạn Việt Nam của mình hiểu vị trí Cộng Hòa của mình và tôi hy vọng bà đã nói với họ rõ ràng như vậy.” Mặc dù bà Chennault đã khẳng định là TT Thiệu đồng ý sẽ không gửi một phái đoàn MNVN tham gia đàm phán vào đầu tháng Mười Một, Mitchell hỏi, “họ đã quyết định không đi Ba Lê hả?” Bà Chennault trả lời: “Tôi không tin họ sẽ đi. Thiệu nói với tôi nhiều lần là đi Ba Lê giống như bước vào một màn khói không dính líu gì đến thực tế.”

  Khi TT Thiệu tiếp tục từ chối lời cầu khẩn từ toà đại sứ Mỹ để tham gia hội đàm Ba Lê và Johnson nghe kể là có người “rất thân với Nixon” đang khuyến khích “Saigon phải tỏ ra khó khăn,” Johnson đổ tội vì Nixon mà Thiệu không hợp tác. Trong một buổi họp ở Bạch Ốc với những cố vấn ngoại giao và quân sự hôm 29 tháng Mười, Johnson nói “Cả thế giới sẽ nghĩ ra sao khi biết Thiệu thông đồng với bọn Cộng Hòa. Mọi người có thể tưởng tượng dân chúng sẽ nói gì nếu họ biết Hà Nội đã hội đủ tất cả những điều kiện và rồi Nixon thông đồng với MNVN để ngăn chặn chúng ta có một thỏa hiệp hòa bình?”

  Vì còn tin tưởng Thiệu vẫn còn có thể thuyết phục tham gia hoà đàm và vì muốn biết rõ ràng bên Nixon nói gì với Saigon, Johnson ra lệnh cho FBI nghe lén điện thoại và theo dõi bà Chennault. Ông cũng ra lệnh cho những cơ quan tình báo Mỹ chặn dây thép giữa tòa đại sứ VN ở Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn. Họ cũng nghe lén ứng cử viên phó tổng thống Spiro Agnew.

  Những cuộc nghe lén và chặn dây thép chứng tỏ là ban tranh cử Nixon có khuyến cáo Thiệu đừng tham gia đàm phán Ba Lê. Johnson kể bà Chennault nói với đại sứ Bùi Diễm ngày 2 tháng Mười Một: “Tôi mới vừa nghe xếp tôi [Agnew] nói rằng xếp của ông ta [Nixon] nói là chúng tôi sẽ thắng. Ông hãy nói với xếp của ông [Thiệu] cố gắng giữ thêm một chút nữa.”

  Với chỉ còn bốn ngày tranh cử nữa, Humphrey biết được những hành động của Nixon qua Johnson và lưỡng lự có nên tiết lộ cho báo chí biết hay công khai kết tội Nixon phá hoại cuộc hoà đàm. Johnson cũng rất giận Nixon. Những phụ tá của Johnson còn nhớ là ông ta nói Nixon là người phản quốc, thanh niên Mỹ đang bỏ mình để phục vụ tham vọng chính trị của Nixon. Điều mà Nixon phá hy vọng dàn xếp hoà bình trước khi Johnson rời nhiệm sở cũng làm Johnson nổi điên vì ông ta muốn để lại tiếng thơm là tuy gây chiến tranh nhưng ông cũng đem lại hòa bình cho Việt Nam.

  Nixon biết Johnson đang điên tiết nên ông gọi cho Johnson ngày 3 tháng Mười Một để chối rằng ông không hề cản trở hoà đàm Ba Lê. Khi điện đàm xong, Nixon và những thân cận của ông ôm bụng cười rũ ruột.

  Sức ép của Nixon trên Thiệu có ảnh hưởng đến cuộc bầu cử năm 1968? Nixon thắng 301 Cử Tri Đoàn, Humphrey thắng 191, về đa số, Nixon thắng Humphrey chỉ có 0.7 phần trăm. Người ta không chắc là cuộc hoà đàm thành công hay cơ hội dàn xếp hòa bình, nếu có, đã có thể thay đổi kết quả bầu cử. Humphrey bị coi như là quá gần gũi với chính phủ bất nhân tâm của Johnson. Nếu cho dù Humphrey có chấm dứt chiến tranh, ông ta cũng bị mang tiếng vì ủng hộ những hành động của Johnson ở VN trước đây. Dân chúng toàn quốc đã quyết định cắt đứt mọi liên hệ với quá khứ.

  Ép TT Thiệu để đi đến một dàn xếp hòa bình có thể không ăn thua gì. Ngay cả nếu Nixon không khuyến cáo TT Thiệu đừng tham dự hoà đàm Ba Lê, chưa chắc TT Thiệu đã gửi người đi. Ông ta không cần Nixon nhắc nhở là tham dự hoà đàm sẽ làm Humphrey có hy vọng thắng cử hơn. Thật ra, TT Thiệu cũng thích một chính phủ Cộng Hoà cứng rắn hơn là một người hầu như chắc chắn sẽ có những nhượng bộ khốn nạn cho cộng sản trong một hòa giải chấm dứt chiến tranh. Hơn nữa, sự hiện diện của MTGPMN ở bàn hội nghị cũng làm cho TT Thiệu quyết định không đi Ba Lê, nếu có đi thì ông ta và bên cộng sản cũng sẽ kéo dài thương thuyết với những gián đoạn trong nhiều năm.

  Tuy thế, mặc dù Nixon lo lắng quá đáng về đòn hoà bình ngạc nhiên vào giờ chót của Johnson, sự can thiệp bí mật về hoà đàm của ông không đem lại tiếng tăm nào. Cựu Phó Ngoại Trưởng William Bundy nói: “Trên quan điểm đạo đức và chính trị, Nixon phải được đưa ra xử một cách khắt khe về những hành động được biết đến của ông trong quá khứ cũng như lúc làm tổng thống. Lúc đó, danh tiếng đạo đức của ông có thể sẽ bị thiệt hại nặng nề và những phong trào phản chiến cũng có thể trở nên vũ bão hơn.”

  Ngoài vấn đề cương vị đạo đức, người ta còn đặt nghi vấn: Hành động của Nixon vi phạm Luật Logan được đặt ra từ năm 1799. Luật này cấm một thường dân thương thuyết với viên chức ngoại quốc. Johnson và Humphrey đúng khi tin rằng những tiết lộ công khai về Nixon áp lực với TT Thiệu nếu không làm Nixon thất cử thì nó cũng gây ra cơn sốt hiến pháp sau cuộc bầu cử. Một Quốc Hội về phe Dân Chủ có thể sẽ điều tra Nixon về ép buộc TT Thiệu qua đường dây Agnew – Mitchell – Chennault – Bùi Diễm, và sẽ đi đến cãi vã trong toà về những lần nghe lén của FBI và CIA, và cuối cùng có thể đi đến kết thúc bằng thủ tục truất phế Nixon. Quyết định của Humphrey không công bố tin tức về Nixon là một hành vi tử tế hiếm có trên phương diện chính trị.

  Thật ra, hậu quả lớn nhất của sự can thiệp này là Nixon mang nợ với TT Thiệu. Điều này là một trở ngại quan trọng cho sự tự do của Nixon khi muốn ảnh hưởng đến hành động của TT Thiệu trong thời kỳ chiến tranh và giảm thiểu sự tùy thuộc về an ninh và tự lập của VN vào Mỹ. William Bundy tuyên bố sau này: “Vì lý do chính trị quốc nội [bầu cử TT], Nixon mang lại cho chính ông ta một trở ngại rất lớn, đó là một tân tổng thống Mỹ bắt đầu nhiệm kỳ bằng một mối nợ to tát công khai.”

  Nixon thắng cử làm gia tăng khả năng Kissinger đạt đến tham vọng được cử vào một chức vụ cao trong chính quyền chẳng hạn như là một cố vấn về chính sách ngoại giao. Mặc dù Kissinger nghĩ là những tin tức về hoà đàm Ba lê mà ông đã rỉ tai cho Mitchell có thể mang đến cho ông một phần thưởng chức vị nào đó trong chính phủ Nixon, ông không chắc là một người xa lạ đối với Nixon như ông lại có thể được mời giữ một vị trí quan trọng. Để gia tăng hy vọng, Kissinger chứng tỏ sự hữu dụng của mình bằng cách mách Nixon qua nhà báo bảo thủ William Buckley rằng Bộ Trưởng Quốc Phòng Clark Clifford (thời TT Humphrey) có thể đang tổ chức một cuộc đảo chính lật đổ TT Thiệu để cốt yếu bảo đảm MNVN tham dự hoà đàm Ba Lê. Nếu TT Thiệu bị ám sát giống như TT Diệm vào năm 1963, Kissinger nói “tất cả các quốc gia trên thế giới sẽ nghĩ rằng làm thù với Mỹ có thể bị nguy hiểm, nhưng làm bạn với Mỹ thì có thể bị chết.”

  Lời của người dịch: Kissinger là nhân vật nhị trùng chịu hợp tác với Nixon với những kinh nghiệm quý báu thu thập được qua cuộc đàm phán thất bại mã danh “Pennsylvania” mà ông đã giúp Johnson. Với vai trò làm tư vấn, Kissinger đã từng hội họp về VN với Johnson và những nhân vật quan trọng nhất trong chính phủ, do đó ông biết rõ đường đi nước bước về chương trình hoà bình của Johnson.

  Xin nói qua về sự thành hình của cặp Nixon-Kissinger. Nixon chọn Kissinger làm Cố Vấn An Ninh Quốc Gia để dẫn đầu Ủy Ban An Ninh Quốc Gia. Vì cặp này chú trọng rất nhiều về chính sách ngoại giao hơn là quốc nội hoặc quốc phòng, vai trò của Ngũ Giác Đài và Bộ Ngoại Giao bị lu mờ trong thời TT Nixon này. Vấn đề sinh tử của họ là phải rút khỏi VN để tạo một cán quân cân bình thế giới, giảm thiểu xung đột với Nga Xô, và mở đường cho một thế giới trật tự lâu bền.

  
Chương Hai Mục Lục Chương Bốn

  

Đôi Bài Trùng Quyền Thế - Robert Dalleck