|
Sau khi Tổng Thống Johnson bắt đầu cuộc dội bom liên tục từ tháng Ba 1965, Đại Sứ Henry Cabot Lodge mời Kissinger đến Sài Gòn vào tháng Mười để giám định thời gian cần thiết cho ổn định tình thế. Sau hai tuần ở VN, Kissinger nghĩ rằng “Chúng ta dính líu vào một cuộc chiến mà không biết cách nào để thắng hay kết thúc…Chúng ta có những cuộc dội bom mạnh bạo đến độ làm cả thế giới bất bình nhưng lại có thái độ thờ ơ hay tà tà trước khi quyết định…Không một ai có thể thật sự cắt nghĩa cho tôi biết cuộc chiến sẽ chấm dứt ra sao ngay cả trong những giả sử thuận lợi nhất.” Kissinger nghi ngờ rằng nước Mỹ có thể giúp xây dựng một xứ sở mà dân của họ “chỉ có một chút lòng ái quốc.” Tuy phát biểu như vậy, ông ta nói với ĐS Lodge “Ông đang làm một nhiệm vụ cao cả mà tương lai của tất cả mọi dân tộc tự do khắp thế giới tùy thuộc vào.” Ông tả VN như “bản lề của cố gắng quốc gia của chúng ta, nơi thành công và thất bại sẽ định đoạt vai trò quốc tế của Mỹ cho cả mấy chục năm sắp đến.” Vào Tháng Chạp, ông cùng với 189 khoa bảng Mỹ ký một bức thư ngỏ đăng trên New York Times để nói rằng phản chiến trong nước “có thể kéo dài cuộc chiến bằng cách làm cho Cộng Sản khinh thường sự quyết tâm của người Mỹ.” Sự nghiệp cố vấn của Kissinger bị lung lay vì một bài tường thuật được đang lên báo vào tháng Mười sau khi ông kết thúc cuộc viếng thăm Việt Nam. Trước khi về nước, ông nói riêng với các phóng viên tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở Saigon rằng ông ta bi quan về khả năng đánh bại Cộng Sản của chính quyền Miền Nam. Khi tờ Los Angeles Times đăng lời bình luận này, Kissinger trở thành một “persona non grata” (người thất sủng) của Bạch Ốc. Nhưng với những lời chối bai bải, tuy không thật lòng, cộng với ý nghĩ của TT Johnson sẵn sàng cho là báo chí xuyên tạc và sự bênh vực của Ngoại Trưởng Dean Rusk, người cho Kissinger là một ủng hộ viên tín cẩn đã cứu vớt uy tín làm cố vấn của ông. Vào năm 1966, sau hai lần đi VN nữa, Kissinger trở nên bi quan hơn về cố gắng chiến tranh của Mỹ. Ông ta ra về với cảm nghĩ là chiến thắng quân sự của Mỹ đã vượt khỏi tầm tay. Tuy nhiên, ông ta nghĩ rằng một thỏa thuận có dàn xếp có thể cứu vớt Miền Nam VN. Ông ta thúc đẩy chính phủ Mỹ tận dụng mọi cố gắng quân sự, chính trị, và kinh tế để “tạo nên một hoàn cảnh thận lợi cho thương thuyết với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Việt Cộng”. Kissinger có thể hình dung là “trên toàn thế giới, không có một nhiệm vụ nào thiết yếu hơn.” Ông ta nói với ĐS Lodge: “Nếu chúng ta thất bại ở VN, tôi tiên đoán sẽ có hàng chục năm gia tăng khủng hoảng. Nếu chúng ta thắng, đó sẽ là một khúc quanh lịch sử cho thời kỳ hậu chiến. Giống như những vụ đương đầu Cuba và Bá Linh đã thuyết phục Sô Viết về sự vô ích khi theo đuổi thắng lợi chính trị bằng phương tiện quân sự, VN cũng có thể chấm dứt chủ nghĩa bành trướng của Trung Cộng bằng hăm dọa vũ lực.” Trong một bài báo khác, Kissinger khẳng định rằng rút quân khỏi VN “sẽ là điều thảm hại, nhưng có thể thương thuyết được.” Nếu Mỹ rút đi mà không tạo ra một Miền Nam tự trị, họ sẽ ”làm giảm uy tín cho những lời hứa của nước Mỹ trong những lãnh vực khác…Nói tóm tắt, chúng ta hết chiến đấu ở VN vì người VN, chúng ta còn chiến đấu cho chính chúng ta và cho sự ổn định thế giới.” Đây không phải là lần cuối Kissinger thổi phồng sự quan trọng của một hành động của Mỹ ở ngoại quốc. Điều ông ta bỏ sót là dư luận quốc tế có lẽ đánh giá sự rút quân của Mỹ sau một hành động thất bại là một cử chỉ can đảm thực tế làm cho nước Mỹ là một đồng minh và đối thủ nhậy cảm để dùng sức mạnh trong tương lai một cách tốt đẹp hơn. Năm 1967, Kissinger là con thoi bí mật trong cuộc thương thuyết thất bại giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt có mã danh là Pennsylvania. Mặc dù ông đã không mang lại thành quả tích cực nào trong nhiệm vụ này, nhưng Kissinger đã gây một ấn tượng mạnh với Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara, người miêu tả Kissinger là một “người thương thuyết tài ba…giỏi nhất mà tôi biết trong bẩy năm qua.” Nhưng TT Johnson lại không chắc về tài của Kissinger. Trong một cuộc điện đàm, TT Johnson dùng chữ Giáo Sư Kissinger nhiều lần như thể ông ta đại diện cho nhóm khoa bảng dân chủ chống chiến tranh. TT Johnson đồng ý cho Kissinger đi Ba Lê để khai thông bế tắc một lần chót và nói (với Kissinger) “Tôi sẽ cho một cơ hội nữa và nếu không thành, đích thân tôi lên Cambridge xẻo dái ông đó.” Cuộc đàm phán thất bại đã không chấm dứt sự liên hệ của Kissinger với cố gắng liên tục của Mỹ để tìm một căn bản thương thuyết với Hà Nội. Mặc dù ông ta không còn đóng vai trò trực tiếp như ông đã từng giữ trong cuộc đàm phán Pennsylvania vào năm1967, Kissinger vẫn có tin tức bên trong về một khởi xướng hòa bình mới của Johnson vào năm 1968. Lợi thế và kiến thức này sẽ tạo nên mối quan hệ đặc biệt với Nixon mà nó sẽ giúp đưa Kissinger lên tuyệt đỉnh của sự nghiệp về chính sách quốc phòng và ngoại giao trong tám năm kế tiếp.
|