|
Giữa vụ tăm tiếng Watergate, Nixon và Kissinger quyết tâm chú ý vào vấn đề an ninh quốc gia, đó là chủ đề hầu như không dính dáng đến đảng phái an toàn nhất mà có thể làm im tiếng dư luận về những sai lầm của Bạch Ốc. Nixon và Kissinger đều hiểu bảo đảm an ninh quốc gia là công việc hàng đầu của tổng thống, nhưng Nixon đang bị suy yếu quá nhiều trong nước, liệu ông có thể hành động hữu hiệu ở ngoại quốc không? Chắc chắn họ thấy đó là một vấn đề đáng quan tâm, nhưng họ không thể chấp nhận điều có thể xẩy ra là từ chức có thể có lợi cho quốc gia. Họ vẫn hy vọng thu hoạch thắng lợi về chính sách ngoại giao, nhưng điều tiên quyết là phải ngăn ngừa cơn sốt mới ở Việt Nam. Nixon và Kissinger lo ngại buổi họp dự định được tổ chức vào hôm mùng 6 tháng Sáu để tái phê chuẩn hiệp định Ba Lê sẽ đổ vỡ. Kissinger nói với một người bạn Anh quốc trước khi đi Ba Lê “Với những người Việt Nam bệnh hoạn này, ông không bao giờ biết trước là họ có làm ông trải qua giai đoạn đau đớn hay không.” Hôm mùng Sáu tháng Sáu, chỉ trong vài giờ sau khi mở đầu cuộc thảo luận ở Ba Lê, Kissinger biết ông lại phải đối diện với một màn khổ sở nữa với Hà Nội và Sài Gòn. Kissinger thuyết phục Lê Đức Thọ dời ngày công bố bản thông báo chung sang ngày hôm sau vì họ không thể đi đến thỏa thuận làm sao kiềm chế gây hấn ở trong MNVN và chấm dứt sự hiện diện của quân đội MBVN ở Cam Bốt. Nhưng sự trì hoãn này không làm TT Thiệu hài lòng, ông bác bỏ lời tuyên bố tái phê chuẩn ngưng bắn vì đó là một phương kế của Hà Nội để ngăn cản trả đũa quân sự từ Mỹ trong khi tiếp tục đe dọa chính phủ của ông. Kissinger sai tòa đại sứ Mỹ khuyến cáo TT Thiệu “đừng tự sát một cách ngu xuẩn như vậy.” Nếu từ chối không ký vào bản thông báo chung, Kissinger muốn TT Thiệu hiểu rằng “Quốc Hội Mỹ sẽ hoan hỉ giải quyết ông một cách nhanh chóng.” TT Thiệu phớt lờ lời cảnh cáo của Kissinger và tiết lộ cho báo chí sự chống đối của ông đối với bản thông báo chung. Nixon giận điên nhưng từ chối ép buộc một khủng hoảng công khai với Sài Gòn vì nó sẽ đưa ra những câu hỏi về hòa bình trong danh dự và giảm cơ hội nâng cao chính sách đối ngoại trên những khó khăn quốc nội của ông. Nhưng sau lưng, Nixon cho TT Thiệu một tối hậu thư: ký vào bản thông báo chung hay sẽ đối diện “với những hậu quả tàn khốc mà tôi đã nhiều lần nói cho ông nghe.” Kissinger bảo Nixon rằng nếu Sài Gòn nghe lời, điều đó chứng tỏ cho những người chỉ trích chính phủ là ông [Nixon] tiếp tục làm một người lãnh đạo chính sách ngoại giao hữu hiệu và nên ở tại chức. Tuy Nixon và Kissinger dư biết rằng sự tái phê chuẩn công khai của hiệp định Ba Lê sẽ để lại một lỗ hổng cho tương lai của MNVN, họ cũng biết là sự chống đối lan tràn trong nước về hành động quân sự mới đối với Hà Nội và cương vị chính trị yếu đi của Nixon sẽ không cho phép ông ta làm bất cứ gì ngoài giả vờ cho là bản thông báo chung sẽ thúc đẩy viễn ảnh hòa bình ở Đông Dương. Nixon bây giờ ép “bọn điên” ở Sài Gòn, giống như Kissinger tiếp tục gọi họ, ký vào một thỏa thuận cam đoan chấm dứt giao tranh trên toàn cõi Đông Dương. Những đe dọa mới cho TT Thiệu đang “thí tất cả” và những hứa hẹn bảo đảm an ninh cho MNVN đã thuyết phục TT Thiệu ký. Mặc dù bản thông báo chung được phổ biến hôm 13 tháng Sáu đã tạo ra một nơi trú ẩn về Việt Nam ở trong nước mà Nixon đang cần trong lúc khủng hoảng Watergate, bản thông báo làm cho Hà Nội tiếp tục phá rối trong Nam và để tương lai của Lào và Cam Bốt tiếp tục trong tình trạng nguy hiểm. Bản thông báo là một lời thú tội vô phương cứu chữa về phần Hoa Kỳ. Hôm 25 tháng Sáu, lời khai của John Dean trước Quốc Hội là Nixon có biết về vụ che đậy dấu vết Watergate đưa Nixon vào trong thế thủ và gây khó khăn cho Bạch Ốc để tạo sự chú ý của dân chúng vào quan hệ ngoại giao. Hôm 28 tháng Sáu, Kissinger nói với Mel Laird “Chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi những quốc gia khác nhận thấy chỉ còn một chút quyền thế ở đây.” Ngày hôm sau, Nixon cảm thấy bắt buộc phải chấp nhận sự kiện Quốc Hội cấm chỉ mọi hoạt động quân sự ở Đông Dương bắt đầu hiệu lực từ ngày 15 tháng Tám. Nixon hiểu rằng chống lại sự kiềm chế này sẽ đi ngược lại với dư luận dân chúng. Ông đã có quá nhiều khó khăn với vụ Watergate để nhân danh chính phủ gánh vác thêm một tranh luận bất nhân hòa về tự do tiếp tục chiến đấu ở Đông Nam Á. Dù cho có vụ tai tiếng Watergate hay không, Nixon và Kissinger đằng nào cũng sẽ theo đuổi cùng chính sách ngoại giao. Vụ Watergate cũng không thể cắt nghĩa mọi kiềm chế trên hai ông ở ngoại quốc. Sự cấm đoán hành động của Bạch Ốc ở Đông Nam Á là kết quả của chống đối hành động quân sự tiếp tục ở Việt Nam, Lào, và Cam Bốt từ dân chúng và Quốc Hội nhiều hơn là vì vụ Watergate. Bằng chứng là sự liên hệ của tổng thống với Moscow, Bắc Kinh, Khối Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương, và Trung Đông tương đối vẫn không bị giới hạn. Vụ tai tiếng này có thể làm bạn cũng như thù không hợp tác như xưa nhưng khủng hoảng trong nước của Nixon không ngăn cản những cố gắng thúc đẩy quan hệ của ông với bất cứ ai. Ngược lại, hai ông có thể lợi dụng cơ hội ngoạn mục vào hôm 16 tháng Mười khi Kissinger và Lê Đức Thọ được giải Nô Ben về Hòa bình vì những công trình chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, hoàn cảnh ở trong nước và ngoại quốc đã làm Bạch Ốc ngần ngại huênh hoang về một thắng lợi cho chính phủ như vậy. Kissinger nghĩ rằng Nixon đón nhận tin tức với cảm nghĩ lẫn lộn. Ông thèm được xem như là một sứ giả hòa bình vĩ đại, nhưng bóng tối Watergate đã ngăn hội đồng No Ben trao phần thưởng cho Nixon vì đã có “những quyết định quan trọng chấm dứt chiến tranh Việt Nam,” theo như Kissinger rộng rãi miêu tả. Việc chiến tranh vẫn tiếp tục một cách câm nín khắp Đông Dương đã phủ một bóng tối thêm trên một thời điểm đáng lẽ phải là một cơ hội ăn mừng cho cả nước. Một tờ báo đã nêu ra điểm này một cách hoàn hảo khi hỏi giải của Kissinger có phải là giải “Danh dự không hòa bình?” Sự từ chối nhận giải của Lê Đức Thọ vì “hiệp định Ba Lê không được thi hành” xác nhận những cảm nghĩ trong nước và ngoại quốc là hội đồng ở Oslo tốt hơn nên gọi giải hòa bình trong năm là “Giải Nô Ben Chiến Tranh.”
|