|
Khởi đầu nhiệm kỳ thứ hai vào tháng Giêng 1973, Nixon tin rằng ông phải chấm dứt chiến tranh Việt Nam ngay lập tức. Ông nghĩ điều đó sẽ làm ông rảnh rỗi để kiếm thêm thắng lợi về chính sách ngoại giao với Trung Quốc và Liên Xô, đối đầu với một khủng hoảng Trung Đông khác, bù đắp quan hệ bấp bênh với các đồng minh Âu Châu, và một số tiến triển trong việc cô lập chủ nghĩa cộng sản ở Nam Mỹ. Hôm mùng Ba tháng Giêng, Haldeman ghi nhận là tổng thống “vẫn chưa rõ ràng chú tâm bắt đầu làm việc cho nhiệm kỳ thứ hai...tôi nghĩ cho đến khi ông dàn xếp xong vụ Việt Nam, mọi việc khác sẽ hầu như phải nằm sau hậu trường.” Vào tháng Giêng, kết quả thăm dò Gallup cho biết rõ dân chúng Hoa Kỳ đã mất hết kiên nhẫn cho chiến tranh, như vậy Nixon không còn chọn lựa nào khác ngoài đem đến hòa bình. Lúc đó, 60 phần trăm dân chúng trong nước cho rằng đem quân sang Việt Nam là một lỗi lầm. Sáu mươi bẩy phần trăm trách chính phủ không báo cho dân chúng biết tất cả những gì họ nên biết về chiến tranh. Về việc dội bom Hà Nội, 46 phần trăm đồng thuận và 45 phần trăm chống. Với câu hỏi “Chúng ta có nên dội bom Hà Nội và Hải Phòng trở lại nếu Hà Nội bác bỏ những điều khoản hòa bình hợp lý?”, 44 phần trăm chống và chỉ có 42 phần trăm thiên về dội bom thêm trên vĩ tuyến thứ 20. Dù Nixon có thắng cử với số phiếu chênh lệch đáng kể, điều đó không bắt buộc là ông phải tiếp tục chiến tranh. Trong tuần lễ đầu của tháng Giêng, các ủy ban trong lưỡng viện Hoa Kỳ thông qua nhiều quyết nghị bãi bỏ tài trợ cho những hoạt động quân sự của Mỹ ở Đông Dương. Sự cắt đứt này chỉ có thể được đảo ngược khi Hà Nội không thả tù binh hoặc đe dọa Mỹ rút quân. Hôm mùng Sáu tháng Giêng khi Kissinger gặp Nixon ở Trại David để bàn về chuyến trở lại Ba Lê của Kissinger vào hôm mùng Tám, vì sợ các dân biểu trong Quốc Hội với đa số theo đảng Dân Chủ sẽ bỏ phiếu làm những quyết nghị trở nên bắt buộc, Nixon khuyên Kissinger nên “dàn xếp trên bất cứ điều khoản nào có sẵn...sự mòn mỏi về chiến tranh đã đến thời điểm quá sức chịu đựng của chúng ta để tiếp tục.” Khi tiễn Kissinger, Nixon nói thêm “Thế nhé, dù sao đi nữa, đến đây là hết!” Sự ước đoán của Nixon phần lớn dựa trên sức thuyết phục là dội bom đã buộc Hà Nội chấm dứt chiến tranh. Mặc dù tạo cho vẻ mặt can đảm khi tuyên bố rằng những cuộc không tập của Mỹ đã không khuất phục được họ, Hà Nội công nhận là chiến dịch dội bom đã tàn phá khắp MBVN, gồm cả Hà Nội lẫn Hải Phòng. Tại một phiên họp toàn bộ hôm mùng Bốn tháng Giêng, MBVN tuyên bố sẵn sàng chấm dứt chiến tranh. Họ muốn ký hiệp ước vào ngày 20 tháng Giêng, ngày bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai của Nixon. Trong những ngày giữa mùng 8 và 13 tháng Giêng, Kissinger và Lê Đức Thọ cùng thỏa thuận trên một dàn xếp sau cùng. Tuy nhiên, những cuộc hội đàm trước đó đã không xẩy ra một cách êm thắm. Trong lúc bắt tay trước khi đàm phán, Kissinger bảo Thọ: “Dội bom không phải là lỗi của tôi.” Thọ không nhân nhượng: “Ông đã làm vẩn danh dự của Hoa Kỳ. Hành động man rợ và vô nhân đạo đã khuấy động sự bất bình khủng khiếp từ các dân tộc trên khắp thế giới.” Khi Thọ nhai lại những lời trách móc này, Kissinger nổi giận “Tôi đã nghe những tĩnh từ này lần đầu nhưng tôi nghĩ ông không nên nhắc lại nữa.” Thọ trả lời đó là ông đã “nhịn nhục rất nhiều rồi.” Chính phủ của TT Thiệu vẫn là trở ngại chính cho dàn xếp. Trước khi đi Ba Lê, Kissinger cố gắng thuyết phục ba nhà ngoại giao TT Thiệu gửi qua Washington rằng ông và Nixon không mơ mộng gì về người MBVN. Ông nói “họ là những quân khốn nạn nhất...họ là những đứa hoàn toàn lươn lẹo.” Tuy thế, Kissinger lại cố gắng thuyết phục các nhà ngoại giao là dàn xếp hòa bình với họ vẫn có giá trị. Một Hà Nội yếu đi sẽ không ở trong một cương vị có thể lật đổ được chính phủ của TT Thiệu, và nếu họ dám, Nixon sẵn sàng đáp ứng với sức mạnh thích đáng. Điều Nixon đặc biệt quan tâm là sự chống đối của TT Thiệu sẽ phủ một đám mây đen cho ngày nhậm chức của ông vào hôm 20 tháng Giêng. Ông muốn tuyên bố về dàn xếp vào hôm 18 tháng Giêng. Để cho TT Thiệu biết là ông ta hết đường ngọ nguậy, Bạch Ốc loan báo chấm dứt oanh tạc MBVN vào hôm 12 tháng Giêng. Haig được phái đi Sài Gòn để nói cho TT Thiệu biết rằng Hoa Kỳ sẽ ký thỏa thuận và không cần biết ông ta làm gì. Mặc dù rốt cuộc cũng chịu thua áp lực của Nixon, TT Thiệu cố gắng ngăn cản ký kết bằng cách đặt ra những nghi vấn về thủ tục. Trong khi nhân nhượng, ông ta lại trách về sự hiện diện của quân MBVN ở trong Nam. Phó TT Nguyễn cao Kỳ kín đáo tả “thỏa hiệp này là ‘phản bội.’” Cộng Sản tiếp tục chiếm đóng nhiều nơi trong MNVN làm những phần còn lại của thỏa hiệp về dự định dàn xếp chính trị trong tương lai trở nên vô nghĩa. Để tỏ đoàn kết giữa Sài Gòn và Washington, TT Thiệu gửi bộ trưởng ngoại giao sang dự lễ ký ở Ba Lê. Kissinger nói với Nixon “thật là một bẽ mặt lớn lao nếu không có sự hiện diện của họ.” Nhưng Nixon lại nghĩ sự có mặt của bộ trưởng ngoại giao MNVN ở Ba Lê là “một ý tưởng rất tốt” vì điều này chứng tỏ sự thống nhất giữa Sài Gòn và Washington trước mắt Hà Nội và những người bảo thủ nghi ngờ sự sống còn của thoả thuận. Mặc dù ông không thổ lộ cho MNVN biết, Nixon nghi là hiệp định hoà bình rốt cuộc sẽ đi đến đánh nhau. Hà Nội cũng không cần dấu diếm ý định xâm chiếm MNVN sau này. Kissinger dặn Nixon đừng nói đây là một “hòa bình lâu dài vì trước sau, nó sẽ hầu như chắc chắn nổ bùng lên.” Nixon đồng ý. Ông định tuyên bố cho cả nước rằng “Điều mà chúng ta ký vào thỏa thuận không có nghĩa là hòa bình sẽ tồn tại dài lâu.” Và nếu không kéo dài, ông hy vọng MNVN sẽ có phương tiện và khả năng chống cự một mình. Nếu điều đó không xẩy ra, ông hy vọng Quốc Hội và toàn quốc sẽ ủng hộ một phản ứng quân sự từ Hoa Kỳ. Giống như Haig nói với thủ tướng Thái Lan trong chuyến chu du Đông Nam Á “Chúng tôi nghĩ là với một thỏa thuận, dân chúng Hoa Kỳ sẽ ủng hộ sự cần thiết để áp dụng nó.” Trong bài diễn văn cho toàn quốc hôm 23 tháng Giêng, Nixon không thể nhịn diễn tả dàn xếp như “hòa bình trong danh dự.” Ông cũng không thể cưỡng lại lời tuyên bố rằng “thỏa thuận này sẽ bảo đảm một hòa bình vững chắc ở Việt Nam và đóng góp vào sự bảo tồn hòa bình lâu dài ở Đông Dương và Đông Nam Á.” Trong một buổi tường trình báo chí về thỏa thuận hôm 24 tháng Giêng, Kissiger củng cố những lời khẳng định của Nixon. Về lâu về dài, quân MBVN ở trong Nam sẽ không phải là một vấn đề vì thỏa thuận hoà bình cấm đưa quân lén lút vào Nam và “sự tiêu hao nhân lực bình thường” rốt cuộc sẽ làm tan mối đe dọa của họ đối với Sài Gòn. Một phóng viên hỏi “nếu thỏa thuận tan vỡ, Hoa Kỳ có bao giờ đem quân trở lại Việt Nam nữa không?” Kissinger trả lời tránh né “Tôi không muốn suy đoán về những trường hợp giả sử mà chúng tôi nghĩ không xẩy ra.” Các phóng viên cũng hỏi thỏa thuận hiện nay khác gì với thỏa thuận đáng nhẽ đã có thể đạt được bốn năm về trước và tại sao hiệp định bao gồm điều khoản thay thế nhu liệu chiến tranh cho MNVN nếu chiến tranh quả thật đã kết thúc? Tuy không thừa nhận khả năng giao tranh trong tương lai có thể làm đổ chính phủ TT Thiệu, Kissinger trả lời rằng không như những đề nghị trước của MBVN, thỏa hiệp hiện nay bảo đảm tương lai chính trị của MNVN. Tuy nhiên, ông thú nhận điều khoản tiếp tế quân sự thêm trong hiệp định là chính sách bảo hiểm trong trường hợp chiến tranh tiếp tục sau đó. Nixon và Kissinger làm ngơ sự thật về chống đối dàn xếp từ Sài Gòn và họ lấp liếm sự quả quyết của MNVN là thỏa thuận này sẽ cho Cộng Sản MBVN một thời gian để nghỉ ngơi trước khi xua quân xâm chiếm miền Nam. Kissinger nói riêng với một ký giả “Nếu chúng ta trèo chống khéo...chúng ta có thể bịt mồm họ [MNVN] tối thiểu trong một thời gian, đó là mục tiêu chính.” Cùng trong ngày, khi một phóng viên khác hỏi qua điện thoại “một hay hai năm án binh bất động” có thể được không, Kissinger trả lời “Hy vọng ba phần tư là điều đó sẽ xẩy ra.” Kissinger thành thật và bi quan hơn với Marvin Kalb. Ông nói “Lũ điên rồ đó [ý chỉ MBVN và MNVN] sẽ có thể lại đánh nhau đầu tháng hai ngay bây giờ...không được, điều đó không xẩy ra...thỏa hiệp có thể sau này thế nào cũng đổ vỡ...nó quá phức tạp vì thế nó sẽ có hiệu nghiệm trong một thời gian.” Khi Ehrlichman hỏi về triển vọng của MNVN sau ngưng bắn, Kissinger trả lời “tôi nghĩ nếu số họ may, họ có thể cầm cự được trong một hay hai năm.” Đe dọa giao tranh lại đến khi mực trên bản hiệp định hòa bình chưa kịp khô. Hôm 24 tháng Giêng tại một buổi họp báo, Lê Đức Thọ tuyên bố “dân tộc Việt Nam nhất quyết tiếp tục tranh đấu” và ông tiên đoán họ “sẽ chắc chắn sẽ được tống nhất.” Hôm sau, trong một buổi họp báo khác, một đại diện của Việt Cộng thừa nhận “không một thế lực nào có thể ngăn cản cách mạng lịch sử không ngừng của dân tộc Việt Nam.” Vào ngày 30 tháng Giêng, các đài truyền hình trong nước Mỹ tả MNVN “vẫn còn trong khói lửa.” Cuộc ngưng bắn “bị vi phạm trên kích thước giao tranh nặng nề từ đầu cho đến cuối miền.” Hôm 31, khi các phóng viên hỏi Kissinger về giao tranh tiếp tục, ông ta khuyên nên kiên nhẫn và nói “Họ đánh nhau hơn 25 năm nay rồi.” Ông hy vọng là một áp lực cần thiết sẽ được dùng để duy trì hòa bình. Trong nước Mỹ, cảm tưởng trút gánh nặng sau khi chấm dứt chiến tranh cộng với viễn ảnh hồi hương của khoảng 600 tù binh Mỹ làm mọi người khen thành tựu của Nixon. Báo chí trên toàn quốc tán thưởng “hoà bình trong danh dự” của ông. Kết quả thăm dò Gallup cho biết mặc dù Nixon hứa tiếp tục viện trợ cho TT Thiệu để đối phó với giao tranh tiếp theo, đa số lớn dân chúng chống việc Mỹ dính líu trở lại vào Việt Nam. Trong một thăm dò khác, 70 phần trăm dân chúng dư biết MBVN sẽ tiếp tục cố gắng thôn tính miền Nam, chỉ có 30 phần trăm ngả theo tiếp tục viện trợ chiến tranh cho MNVN. Bẩy mươi mốt phần trăm chống dội bom trở lại MBVN và 79 phần trăm chống ý tưởng đem quân Mỹ trở lại để giúp miền Nam khỏi rơi vào tay Cộng Sản. Hôm mùng Hai tháng Hai, Hubert Humphrey tuyên bố sẵn sàng cùng đỡ đầu một đạo luật “cấm quân Mỹ trở lại Việt Nam vì dân chúng ‘quá chán ngấy’ với Việt Nam.” Những dữ kiện thăm dò dư luận cho thấy một hậu trường lạnh người về những biến cố ở Đông Nam Á. Đô Đốc Elmo Zumwalt, Tư lệnh Hải Quân nói “Hiệp định Ba Lê là một hòa bình lừa đảo được tạo nên bằng ý đồ đánh lừa dân chúng Mỹ dưới chiêu bài danh dự Hoa Kỳ.” William Bundy công nhận “Đối với miền Bắc và miền Nam, họ không ngạc nhiên về sự vô dụng của hiệp định Ba Lê, cả hai đều thừa nhận là chiến tranh sẽ tiếp tục và hiệp định sẽ được dùng chính là để triệt hạ đối phương trong khi tự củng cố hết sức cho mình.” Hiệp định hòa bình không đem lại giảm thiểu chết tróc rõ ràng. Trong những ngày cuối tháng Giêng, Việt Cộng tổ chức cuộc tấn công nhưng thất bại khi muốn chiếm tỉnh Tây Ninh để hy vọng làm thủ đô cho họ. Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cho biết xung đột sẽ không chấm dứt trong năm 1973. Nixon và Kissinger lo ngại tiếp tục giao tranh sẽ làm người ta cười hai ông là đã đạt được dàn xếp để chấm dứt sự can thiệp của Hoa Kỳ vào cuộc chiến và đem tù binh về nhưng mỉa mai thay, lại không đem lại hoà bình cho Việt Nam, Lào, và Cam Bốt, hay giữ những nơi này khỏi rơi vào tay Cộng Sản. Những chữ “hoà bình trong danh dự” có thể trở thành những lời phê bình chế nhạo tổng thống. Hôm mùng Năm tháng Hai, Kissinger bảo với Nixon là chiến tranh vẫn xẩy ra ở Lào. Hôm mùng Sáu, Tổng Tư Lệnh Thomas Moorer báo cáo cho Kissinger là Hà Nội “đang cố gắng hết sức chuyển tiếp liệu xuống MNVN qua vùng phi quân sự.” Kissinger hỏi “Bọn chó đẻ đó đang tổ chức một cuộc tổng tấn công?” Đô Đốc Moorer không nghĩ là họ có ý định tức thời cho tấn công rộng lớn. Trong lúc này, họ “đang cố gắng thay thế thiệt hại, bảo vệ quân lực [chống MNVN vi phạm ngưng bắn], rồi dĩ nhiên đến thời điểm sau cùng trong khoảng một năm, họ sẽ có cơ hội đó.” Nixon và Kissinger đặc biệt quan tâm đến Lào và Cam Bốt. Họ hy vọng có thể thuyết phục MBVN giúp chấm dứt giao tranh ở Cam Bốt nhưng Hà Nội không thể khuyên Khờ Me Đỏ ngưng tấn công chính phủ Lon Nol. Để đối phó, Nixon ra lệnh bí mật dội bom Cam Bốt trở lại. Nếu bị chất vấn, Bạch Ốc được dặn phải nói “đó chỉ là những chuyện nhỏ chưa giải quyết xong nhưng sẽ đem lại ngưng bắn.” Tương tự, Nixon ra lệnh cho Kissinger dùng B-52 dội bom quân MBVN đang tiếp tục đánh nhau bên Lào. Cuộc dội bom mang đến kết quả nhanh chóng. Moorer nói Kissinger hôm 20 tháng Hai “Mình trải bom đẹp, tụi nó ngưng rồi!” Báo chí và Quốc Hội có chống đối, nhưng cuộc ngưng bắn hôm 22 tháng Hai đã cứu chính phủ khỏi những bình luận thêm trong nước. Tuy nhiên, dù Hoa Kỳ phản đối, quân MBVN vẫn còn ở lại Lào vì cuộc dội bom chưa đủ mạnh để buộc Hà Nội rút quân về. Kissinger sửa soạn chuyến đi mà ông tin “pha trộn đúng liều thưởng-phạt” có thể thuyết phục Hà Nội “duy trì hợp tác ở Đông Dương.” Nơi nghỉ chân đầu tiên một ngày ở Bangkok làm Kissinger chạm trán với những bấp bênh mà hiệp định hòa bình đem đến cho khắp Đông Nam Á. Khi các viên chức Thái hỏi “Hoa Kỳ có phản ứng không nếu MBVN vi phạm ngưng chiến?” Kissinger bảo đảm với họ “Chúng tôi sẽ không đứng yên nếu Hà Nội vi phạm trắng trợn hiệp định.” Buổi sáng hôm mùng 9 tháng Hai, Kissinger đi Vạn Tượng một ngày trước khi đến Hà Nội để hội họp ba ngày. Sài Gòn và Nam Vang không nằm trong chương trình vì “TT Thiệu căm thù” Kissinger nên đến Sài Gòn không có ích lợi gì, và Kissinger không ghé Nam Vang vì nếu ghé, người ta sẽ dị nghị là Sài Gòn tẩy chay Kissinger, một người bị họ xem là “bất nghĩa.” Ở Lào, hiệp định Ba Lê được xem như là “hy vọng bị lu mờ bởi điềm gở.” Hoàng thân Souvanna Phouma, lãnh tụ trung lập của chính phủ Lào thúc dục Kissinger giúp ngưng xung đột và bảo toàn xứ sở của ông khỏi bị MBVN chiếm đoạt. Và mặc dù dội bom bằng B-52 sẽ buộc Hà Nội tôn trọng những điều khoản của hiệp định hòa bình bắt buộc ngưng xâm hấn ở Lào, tương lai của xứ sở này tùy thuộc vào kết quả sau cùng của xung đột giữa Hà Nội và Sài Gòn. Ba ngày sau đó của Kissinger ở Hà Nội “giống như đi trên mặt trăng.” (Hình ảnh được vô tình tạo ra vì phong cảnh đầy những hố bom mà Kissinger nhìn thấy chung quanh thành phố.) Cuộc viếng thăm nhắm vào hai khán giả Mỹ và Việt: để chứng tỏ cho những người chống chiến tranh ở Mỹ là Bạch Ốc có mọi ý định đi đến hoà giải với MBVN trong khi cũng hy vọng thuyết phục Hà Nội rằng họ có thể thu lợi nhiều bằng cách tôn trọng hiệp định hòa bình hơn là đạp đổ nó. Kissinger tường trình “Khung cảnh ở Hà Nội pha trộn sự cô lập, ngột ngạt, nghi ngờ sợ hãi và yêu ghét lẫn lộn. Có một cảm giác là bị cắt đứt liên lạc với thế giới, được phản ánh trong những cái nhìn chòng chọc ngạc nhiên của dân chúng, không thân thiện mà cũng không thù oán, giống như những cái nhìn của người đi xem sở thú; và những đối thoại cho thấy các nhà lãnh đạo ở Hà Nội ít giao thiệp với và ít đi ra thế giới bên ngoài.” Buổi họp đầu tiên với Chủ Tịch Phạm văn Đồng không được yên tâm như thế. Dù Đồng hứa sẽ thi hành hiệp định Ba Lê, ông ta gây cảm tưởng cho Kissinger là Hà Nội chưa quyết định dùng dàn xếp hòa bình “để đem đến giai đoạn bớt căng thẳng hay làm một công cụ chiến tranh chính trị để đạt đến những mục đích của họ một cách khéo léo hơn.” Kissinger cảnh cáo chống phương cách thứ hai và hy vọng rằng những cuộc dội bom Giáng Sinh trước đây sẽ làm cho lời cảnh cáo của ông có tiếng cộng hưởng lớn lao. Ông cũng nhấn mạnh rằng trợ giúp tái thiết đòi hỏi sự “có đi có lại.” Kissinger không tỏ vẻ lạc quan sau buổi nói chuyện. Trừ Lê Đức Thọ, người mà ông cho là thân thiện đúng mức, Đồng và những hầu cận là “nhóm người cách mạng tôi luyện.” Họ “đa nghi một cách tối tăm” và dễ có quan điểm là ai cũng âm mưu chống họ. Kissinger nghĩ rằng đi lại với họ tốt lắm là cũng “rất khó khăn.” Bản thông báo chung cuối cùng được phát ra ở Hà Nội và Washington không cho biết nhiều về những vấn đề đang xẩy ra. Nhưng những thực tế trên chiến trường được thể hiện rõ ràng trong một quyết định của Ủy Ban An Ninh Quốc Gia ra lệnh cho Cơ Quan Tình Báo Trung Ương và Bộ Quốc Phòng nộp báo cáo hằng tuần về những vi phạm ngưng bắn. Sau khi họp, Kissinger gửi một bức điện cho Thọ để thẳng thắn chất vấn những khó khăn đang xẩy ra: Hiệp định Ba Lê “phải được xem như là một công cụ cho hàn gắn, chứ không phải là một cơ hội cho chiến tranh chính trị.” Nhưng Hà Nội dường như chỉ chú ý đến lén lút chuyển nguyên liệu chiến tranh và xây dựng một lợi thế quân sự ở trong miền Nam. Chủ đích của Hà Nội là tạo ra vẻ hoà bình lâu dài qua chuyến viếng thăm của Kissinger và bản thông báo chung cốt ý giữ một khoảng cách với người Mỹ trong khi họ nhất quyết tiến đến chinh phục MNVN và đô hộ Đông Dương. Nixon cũng không màng về chuyện tạo nên cảm tưởng giả tạo. Với những khó khăn tiếp tục ở Đông Dương cùng với điều tra của Thượng Viện và tường thuật báo chí về vụ Watergate trong lúc khởi đầu nhiệm kỳ thứ hai, ông chú tâm hơn bao giờ hết về xây dựng những hình ảnh tích cực để bảo đảm có ủng hộ từ dân chúng cho những khởi xướng về chính sách đối ngoại mà ông hy vọng sẽ là những bước ngoặc quan trọng trong bốn năm tới. Dù cho có muốn dời trọng tâm ra khỏi những vấn đề ở Đông Dương, những khó khăn với người Việt của cả hai miền, người Lào, và người Cam Bốt cứ giữ chặt sự chú ý của Bạch Ốc vào Đông Nam Á. Vào đầu tháng Ba, Lê Đức Thọ than phiền với Kissinger về Sài Gòn “trắng trợn vi phạm hiệp định Ba Lê,” và công kích Hoa Kỳ đã khuyến khích những vi phạm này. Kissinger phản pháo rằng Hà Nội đang chuyển những số lượng quân cụ và quân nhu khổng lồ được trợ giúp bởi Liên Xô và quân lính vào MNVN. Ông cảnh cáo Dobrynin rằng sự giúp đỡ của Liên Xô không thể được xem là một hành động thân thiện. Những hành động của Sài Gòn cũng làm Kissinger khó chịu. Trong một buổi họp với Đại Sứ Trần Kim Phượng để bàn về chuyến viếng thăm nước Mỹ của TT Thiệu vào đầu tháng Tư, Kissinger khẩn cầu Sài Gòn nên kềm chế dùng vũ lực với quân MBVN còn ở lại trong Nam. Nhưng Đại Sứ Phượng cho đó là những hành động tự vệ và yêu cầu Nixon tái công nhận ý định trả đũa ồ ạt nếu Hà Nội vi phạm hiệp định. Kissinger khẳng định rằng những cảnh cáo cứng rắn ngầm của họ cho MBVN còn tốt hơn là những cảnh cáo công khai mà nó có thể gây cảm tưởng có khủng hoảng. Điều Kissinger không muốn nói là bất cứ cảnh cáo công khai nào cho Hà Nội cũng sẽ được xem như là lời thú tội là hiệp định hoà bình đang tan vỡ. Khi Đại Sứ Phượng nhấn mạnh quan điểm của ông, Kissinger trả lời rằng không còn lợi ích gì nữa để mở lại cuộc tranh luận công khai về Việt Nam. Ông thẳng thắn tuyên bố “Điều mà chúng tôi cố gắng đạt đến là một tình trạng mà dân tộc chúng tôi không còn màng gì đến Việt Nam nữa. Tình trạng đó sẽ cho phép cho nước Mỹ giúp Việt Nam bảo tồn độc lập một cách hiệu quả hơn.” Không cần biết Bạch Ốc muốn tiếp tục đóng một vai trò ở Đông Dương thêm bao lâu, những thăm dò dư luận cho thấy người Mỹ không quan tâm đến chống vi phạm hiệp định. Nixon cũng gặp sự chống cự từ các nghị sĩ về viện trợ tái thiết cho MBVN và MNVN. Kissinger nói “Giải pháp duy nhất còn lại của Nixon [để kềm chế Hà Nội] là dội bom họ, và dĩ nhiên, chúng ta không thể làm như vậy được.” John McClellan, chủ tịch Ủy Ban Quân Lực hỏi Nixon “Thưa Tổng Thống, ông có thể bỏ tiền ra mua hòa bình được không?” Nixon nghĩ làm được, nhưng McClellan nghi ngờ “Ngưng dội bom họ nghĩa là đã cho họ đủ rồi.” Trong buổi họp nội các ngày hôm sau, Rogers cảnh cáo rằng nếu họ không dàn xếp viện trợ xong với MBVN và MNVN, “tất cả sẽ thất bại.” Hôm mùng Chín tháng Ba, Kissinger tường thuật cho Nixon rằng ngoài bàn bạc về trợ giúp, hiệp định đang ở trong tình trạng nguy hiểm. Bất chấp cảnh cáo, Hà Nội tiếp tục chuyển quân và trang thiết bị và cho thấy họ có thể đánh nhau trở lại. Vào giữa tháng Ba, với không có dấu hiệu là Hà Nội sẽ ngưng vi phạm hiệp định, Kissinger đề nghị dội bom hai ngày đường mòn Hồ chí Minh. Khi Nixon không chịu, Kissinger cảnh cáo “Chúng ta không thể cho phép vi phạm hoàn toàn thỏa hiệp chỉ nội trong vài tuần như thế. Chúng ta sẽ mất hết những gì chúng ta đã thắng trong bốn năm qua.” Tân bộ trưởng quốc phòng, Elliot Richardson nghĩ rằng dội bom đường mòn trong 48 tiếng liền sẽ không ăn thua gì. Nixon muốn dựa vào trợ cấp cho Hà Nội để kềm chế họ nhưng ông không chắc là Quốc Hội sẽ cung cấp ngân khoản. Báo chí bắt đầu đưa ra những nghi vấn về sự lâu bền của thỏa thuận. Một nhà báo tả hiệp định Ba Lê là không gì khác hơn ngoài “một cuộc tráo đổi vô cảm” của tù binh để đổi lấy rút quân. Sự giả tạo bên ngoài làm cho dàn xếp giống như không phải chỉ đơn giản trao đổi, nhưng giới chức Hoa Kỳ dường như chỉ chú trọng đến quân lính. Khi những điều khoản khác của hiệp định không được trôi chảy, tỷ dụ như những vi phạm của MBVN, chính phủ Hoa Kỳ lại cẩn thận “ngoảnh mặt đi chỗ khác.” Dù càng nghi ngờ thêm về sự bền vững của ngưng bắn, dân chúng hầu như không quan tâm. Không cần biết hậu quả sẽ ra sao cho người Việt Nam, người Mỹ hài lòng vì quốc gia của họ đã chấm dứt tham dự vào chinh chiến. Bẩy mươi bẩy phần trăm dân chúng cho điểm tổng thống cao vì “đem hòa bình đến cho thế giới,” 72 phầm trăm ủng hộ ông “chấm dứt chiến tranh Việt Nam,” và 62 phần trăm hài lòng với những điều khoản của hiệp định. Bạch Ốc cảm thấy nhẹ gánh vì dân chúng ít quan tâm đến tiếp tục đổ máu ở Đông Dương. Nếu họ để ý đến làn sóng người và quân nhu khổng lồ từ Bắc vào Nam cho phép Hà Nội gia tăng khả năng tấn công, có thể họ sẽ từ chối lời khẳng định của Nixon về “hoà bình trong danh dự.” Để duy trì điều giả dối là ngưng bắn đang tiến hành tốt đẹp và để gia tăng sự tin tưởng của Sài Gòn vào những hứa hẹn của Bạch Ốc bảo vệ MNVN, Nixon gặp TT Thiệu ở San Clemente vào hôm mùng Hai và mùng Ba tháng Tư. Mặc dù TT Thiệu đồng ý gặp ở California, ông muốn đi Washington để gặp các dân biểu, nghị sĩ, và các nhà báo ở thủ đô. Nixon để TT Thiệu đi dù sợ ông ta sẽ đối diện với một dàn chào chống đối ở Quốc Hội về chính thể phi dân chủ của MNVN và cố gắng lôi Hoa Kỳ trở lại vào cuộc chiến. Không có gì nhiều để bàn bạc trong những cuộc đàm phán kín ở California. TT Thiệu chú tâm về vi phạm hiệp định của Hà Nội và ý định lâu dài “kiểm soát miền Nam” của họ. Ông lên tiếng tỏ vẻ lạc quan về sự hữu hiệu của quân đội MNVN, nhưng công nhận rằng nếu nhịp độ xâm nhập hiện nay tiếp diễn, họ sẽ bị nguy. Nixon hứa sẽ có phản ứng mạnh mẽ cho bất cứ cuộc tấn công lớn nào của Cộng Sản, nhưng từ chối tuyên bố công khai lời cam kết này. Vì ông mong mỏi giữ vững ý tưởng là hoà bình trong danh dự đang tiến triển tốt đẹp, bản thông báo cuối cùng về cuộc thảo luận không nói gì về vi phạm hiệp định. Thông báo chỉ hứa “cảnh giác” chống “trường hợp Cộng Sản có thể xâm lấn trở lại.” Trong một buổi họp bí mật giữa John Negroponte, một nhà ngoại giao có liên quan đến thương thuyết hòa bình và Hoàng Đức Nhã, phụ tá báo chí của TT Thiệu, Negroponte xin lỗi vì đã áp đặt một thoả thuận yếu thế trên Sài Gòn, ông nói “Chúng tôi chơi các ông thật nặng.” Ông cũng nói cho phóng viên Neil Sheehan sau đó là những điều khoản Kissinger đồng ý ở Ba Lê “giúp bảo đảm chúng ta thua trận.” Chuyến viếng thăm của TT Thiệu ở Washington cho thấy rõ ràng người Mỹ hết thiết tha tiếp tục dính líu đến Việt Nam. Chỉ có vài nghị sĩ dân biểu và một số quan chức không tên tuổi tham dự bữa quốc yến trong Bạch Ốc do phó tổng thống Spiro Agnew chủ tọa. TT Thiệu dường như là một chất độc và Nixon không có một cố gắng giải độc nào. Trong một buổi họp báo, TT Thiệu bảo đảm với người Mỹ là ông không cần quân Mỹ và nghĩ rằng quân của ông sẽ đối phó với đe dọa Cộng Sản trong tương lai. Mặc dù với những khẳng định của TT Thiệu về khả năng của quân đội của ông bảo đảm yên bình cho MNVN, những khó khăn khắp Đông Dương tiếp tục làm Bạch Ốc lo lắng. Số phận của MNVN, Lào và Cam Bốt vẫn bấp bênh như trước. Hôm mùng Sáu tháng Tư, Bạch Ốc gửi Haig và một nhóm từ Ủy Ban An Ninh Quốc Gia đi Vạn Tượng, Nam Vang, và Sài Gòn để giám định và thảo luận về tình trạng chính trị và quân sự. Haig được nhận chỉ thị “bơm sinh lực vào những người ông gặp.” Nhưng Kissinger dặn dò đừng “bàn bạc quá lộ liễu về những điều mà chúng ta có thể thi hành trong những trường hợp khác nhau...Vì thật ra, chúng ta có thể không làm được.” Những điều Haig nhận thấy không khả quan tí nào. Khi ông tường trình cho Nixon, tổng thống hỏi “Sẽ có bao giờ có ngưng bắn thật sự hay vẫn tiếp tục giao tranh ở mức độ nào đó? Chúng ta có thể làm gì để ngưng tiếp tục bắn nhau?” Haig không có câu trả lời thích đáng. Bài tường trình của ông chỉ lập lại những điều mà Nixon và Kissinger đã thừa biết, đó là “những phá hoại có hệ thống của Hà Nội trên những điều khoản căn bản của thỏa hiệp ở Việt Nam, Lào, và Cam Bốt đang hội tụ để đe dọa khuôn khổ chủ yếu của hiệp định. Bằng chứng không thể chối cãi được.” Vào giữa tháng Tư, Bạch Ốc và MBVN bế tắc trong một cuộc bàn cãi vô bổ. Hà Nội và Việt Cộng tố cáo MNVN vi phạm hiệp định trong khi Nixon và Kissinger tuyên bố những hành động của Cộng Sản không thể tha thứ được. Kissinger nói với Dobrynin rằng nếu “vi phạm tiếp tục, tôi bảo đảm Hoa Kỳ sẽ chống trả quyết liệt và chúng ta sẽ trở lại tình trạng của năm ngoái.” Tia sáng hy vọng duy nhất là sự cam kết của Hà Nội về cuộc gặp gỡ Kissinger với Thọ ở Ba Lê vào tháng Năm để bàn luận cứu vớt hòa bình. Lời dọa nạt hành động “quyết liệt” của Kissinger không là gì hơn ngoài lời nói trống rỗng. Ông và Nixon nói với Đại Sứ Bunker là họ muốn dội bom trở lại ở trong MNVN và Lào. Nhưng Bunker khuyên không nên vì sợ làm tiêu tan hy vọng gìn giữ hay vớt vát ngưng bắn. Về phương diện chính trị, dội bom trở lại trong MNVN hay chỗ đóng quân của MBVN và những kho tiếp liệu được chuyển xuống từ đường mòn Hồ chí Minh trở nên càng khó khăn hơn, nếu không muốn nói là không thể làm được. Điều này dễ bị hiểu là Bạch Ốc cố gắng đánh lạc hướng chú ý về vụ Watergate hoặc có thể là một nước đi để tiếp tục sự tham chiến của Hoa Kỳ. Kissinger nói với Nixon hôm 21 tháng Tư “Thưa tổng thống, nếu chúng ta không vướng vào hoàn cảnh trong nước [vụ Wategate] chó má như thế này thì một tuần dội bom sẽ đặt chúng nó đâu vào đấy theo hiệp định.” Nixon trả lời “Đúng đấy, nhưng mình sẽ làm.” Đó là những lời nói xuông. Họ đùa là vụ Watergate có lợi điểm làm những mẩu tin về dội bom ở Lào và lạm phát trong nước được in ở những trang sau. Nhưng chính ra, không phải vụ Watergate ngăn cản hành động quân sự trở lại ở Việt Nam. Cả nước Mỹ không muốn nghe làm cách nào mà sự bất động của Mỹ sẽ phá hủy hòa bình trong danh dự - 70 phần trăm người Mỹ nghĩ rằng MBVN sẽ cố gắng chiếm đoạt MNVN trong vòng vài năm tới trong khi 54 phần trăm cho rằng Sài Gòn sẽ không chống cự lại một cách có hiệu quả. Những nguyên thủ quốc gia ngoại quốc lặp lại ý kiến của người Hoa Kỳ - 86 phần trăm của 70 viên chức chính phủ ngoại quốc tuyên bố nước Mỹ làm giảm tiếng tăm của họ vì dính líu vào Việt Nam; hai phần ba cho sự liên lụy là một lỗi lầm và tiên đoán Hà Nội sẽ có lúc chiếm đoạt miền Nam. Vào tháng Ba, khi người Mỹ được hỏi vấn đề quan trọng nhất phải đối phó trong nước là gì, 59 phần trăm nói đó là đời sống đắt đỏ; chỉ có 7 phần trăm đề cập đến tình trạng ở Đông Nam Á. Sau này, Kissinger viết “Vào cuối tháng Tư năm 1973, chiến lược Hoa Kỳ về Việt Nam như miếng giẻ rách.” Ông đổ tội cho vụ Watergate, nhưng đó chỉ là cái cớ thuận tiện bào chữa cho sự thất bại của chính sách về Việt Nam. Vụ tăm tiếng này bao trùm cả chính phủ và tín nhiệm bị hao mòn của Nixon gây khó khăn cho ông khi muốn phản ứng mạnh mẽ với sự thách đố của Hà Nội. Nhưng dù không có vụ Watergate, cũng chỉ có ít ủng hộ quý báu từ Quốc Hội hay trong nước về dội bom thêm ở Đông Nam Á. Nixon để ý đến bản tóm tắt tin tức trong ngày 26 tháng Ba đăng kết quả thăm dò cho thấy 54 phần trăm dân chúng Hoa Kỳ chống quân Mỹ trở lại MNVN ngay cả dưới hiểm họa bị Cộng Sản chiếm đóng. Ông gạch dưới dòng kết luận “Người Mỹ đã mệt mỏi vì chiến tranh, chán ngấy những mạo hiểm bên ngoài, ngần ngại đóng vai lương tâm thế giới.” Vào đầu tháng Tư, Thượng Viện bỏ phiếu cấm viện trợ kinh tế cho Hà Nội nếu không có sự chấp thuận của Quốc Hội. Hôm mùng 10 tháng Năm, Hạ Viện cấm dùng tài khoản cho hành động quân sự ở Cam Bốt, và vào ngày 31 tháng Năm, Thượng Viện cắt ngân khoản cho hành quân ở Cam Bốt và Lào. Vấn đề hiện nay cho Nixon và Kissinger giống như vấn đề đã thúc đẩy hai ông chấm dứt chiến tranh vào tháng Giêng, đó là Quốc Hội và dân chúng muốn một kết thúc dứt khoát cho Hoa Kỳ dính líu vào giao tranh. Hơn nữa, chỉ có một thiểu số trong nước chia sẻ mối lo sợ của Nixon và Kissinger là để hòa bình trong danh dự tan rã sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến ảnh hưởng và sức mạnh quốc tế lâu dài của Hoa Kỳ. Thỏa thuận hòa bình tan vỡ sẽ là sự đảo lộn cho Nixon và Kissinger, người đã đầu tư quá nhiều thanh danh vào đó, nhưng không hẳn như thế đối với đa số dân chúng trong nước, họ chỉ đơn giản mong muốn kết thúc điều mà họ cho là một chương xấu trong lịch sử quốc gia. Nếu chính sách ngoại giao có cứu Nixon ra khỏi những tiết lộ gặm mòn về vụ Watergate, điểm khởi đầu vẫn là Việt Nam. Hiệp định Ba Lê sụp đổ bảo đảm sẽ làm tổn thương đến thanh danh của Nixon như là một lãnh đạo thế giới thành công và suy giảm khả năng hành động hữu hiệu của ông ở hải ngoại. Vào cuối tháng Tư, Kissinger và Eric Sevareid cùng đồng ý về tầm quan trọng cho cả thế giới khi nước Hoa Kỳ đoàn kết và thỏa hiệp hòa bình Ba Lê còn hiệu nghiệm. Kissinger bảo Sevareid “Ông đi ra ngoại quốc rồi, ông biết nước Mỹ đáng giá ra sao trên thế giới, và thật đau lòng khi thấy lúc nào nó cũng xâu xé với nhau.” Sevareid nói nếu tổng thống muốn thu xếp bất cứ gì trong chuyến đi Âu Châu vào tháng Chín, “Tổng thống phải dẹp yên cái chó má này ở Đông Dương.” Kissinger mong gặp lại Lê Đức Thọ ở Ba Lê vào giữa tháng Năm. Scotty Reston hỏi Kissinger “Ông mong làm gì ở đó? Trở lại điểm mà theo ông nghĩ ông hiểu?” Kissinger cẩn thận trả lời “Chúng tôi sẽ không đề cập đến nó với mọi chi tiết vì MNVN cũng không tôn trọng mọi điều khoản. Nhưng trở lại chỗ đủ làm một thỏa thuận tạm thời [modus vivendi] để cho phép một số tiến triển hòa bình tiếp tục.” Thương thuyết ở Ba Lê được mở trở lại nhưng không có những căng thẳng với Hà Nội và Sài Gòn. TT Thiệu đặc biệt làm Kissinger khó chịu với những đòi hỏi không thể chấp nhận được mà Kissinger cho là “hỗn và khinh người.” Kissinger cảnh cáo TT Thiệu nếu ông ta không mềm dẻo hơn, Hoa Kỳ sẽ xúc tiến một mình và đến lúc đó sẽ không thể tạo nên ủng hộ mới từ Quốc Hội và nước Mỹ cho MNVN một cách tổng quát hơn. Tại buổi họp khai mào hôm 17 tháng Năm, Kissinger nói thẳng thừng với Lê Đức Thọ. Sự liên hệ giữa họ “đang ở trong tình trạng nguy hiểm.” Sau khi tả những vi phạm khác nhau, Kissinger tuyên bố “Nếu tôi muốn, tôi có thể tiếp tục trong nhiều tiếng đồng hồ để liệt kê và phân loại những vi phạm vô tận của hiệp định, nhưng điều đó không có ích.” Thay vào đó ông muốn tìm ra những giải pháp “để thi hành hiệp định và đem hoà bình thật sự đến cho Đông Dương.” Thọ trông “cởi mở và nhà nghề,” và Kissinger lạc quan rằng họ sẽ “đi đến thỏa thuận cho tất cả những điểm chưa giải quyết xong,” một cuộc ngưng bắn ở MNVN và một thời khoá biểu cho MBVN rút quân từ Lào. Tuy nhiên, Cam Bốt vẫn còn là điểm bất đồng vì Hà Nội không có ảnh hưởng trên Khmer Đỏ. Hôm sau, Thọ trở nên “cứng rắn và hỗn láo,” và đòi “thương thuyết lại những phần quan trọng của hiệp định.” Tuy nhiên, Kissinger hy vọng rằng những đe dọa hậu quả quân sự nghiêm trọng nếu họ không đi đến thỏa thuận sẽ ép Thọ nhân nhượng. Như Kissinger công nhận sau này, những bàn luận với Thọ không là gì hơn ngoài “bề ngoài giả dối.” Sau sáu ngày đàm phán, họ đồng ý gặp nhau lần nữa vào hôm mùng 6 tháng Sáu để ký vào bản thông báo cam kết ngưng bắn và rút lui từ Lào, nhưng sự thỏa thuận đó là giả tạo. Bạch Ốc có tin tình báo cho biết Hà Nội tin tưởng vụ Watergate đang trói tay Nixon và không cho ông dùng đến quân lực. Theo hướng đi định sẵn, Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng MNVN và Hà Nội sẽ tràn ngập MNVN với không có sự can thiệp từ Hoa Kỳ. Mặc dù Kissinger cảnh cáo Thọ rằng không đi đến một thỏa thuận nào đó về Cam Bốt trước ngày mùng Sáu tháng Sáu sẽ có ảnh hưởng đến bản thông báo, MBVN không suy suyển. Họ biết cảnh cáo hay đe dọa của Mỹ là những lời nói suông.
|