Chương Mười Ba
Chiến Thắng Ô Uế

  Không một vấn đề chính sách ngoại giao của Mỹ nào bị bó buộc vào chính trị quốc nội như vấn đề Việt Nam. Ngay cả vào tháng Bẩy, Nixon và Kissinger vẫn còn khác nhau về phương thức tốt nhất để chấm dứt chiến tranh. Nixon tiếp tục tin tưởng rằng Hà Nội sẽ không bao giờ chịu dàn xếp nếu Mỹ không dùng thêm sức mạnh quân lực và một thỏa thuận hòa bình trước tháng Mười Một có thể bị xem là một nhượng bộ làm nguy hiểm đến sự hỗ trợ từ bên bảo thủ của ông. Nixon nói với Haldeman “Trong tất cả vụ thương thuyết với MBVN, Kissinger chưa bao giờ đúng.” Ông tả cách tiếp cận về Việt Nam của Kissinger là “điên rồ.” Nixon thổ lộ trong nhật ký “Theo ý tôi, thời điểm thương thuyết tốt sẽ là sau chứ không phải trước bầu cử.”

  Kissinger làm gì thì làm nhưng ông mặc kệ quyết định chính trị của tổng thống và chỉ nhắm tới nhiệm kỳ thứ hai. Nhưng ông tin tưởng là khi sự thắng cử của Nixon trở nên rõ ràng đối với MBVN, họ sẽ chịu dàn xếp để tránh những cuộc công kích tàn bạo mà Nixon sẽ tự do gia tăng sau ngày mùng 7 tháng Mười Một.

  Vì Nixon tin là hoà đàm Ba Lê có lợi về chính trị, ông để Kissinger tiếp tục thương thuyết. Trong buổi họp dài nhất tám tiếng hôm mùng 1 tháng Tám, MBVN trông có vẻ nhân nhượng hơn trước. Mặc dù hai bên vẫn còn cách xa về phương diện chính trị, Kissinger nghĩ cả hai bên sẽ gặp nhau lần nữa trong 13 ngày. Vào hôm 14 tháng Tám, chung quanh chiếc bàn phủ khăn màu be trong một căn hộ nghèo nàn ở ngoại ô Ba Lê, cuộc bàn luận bẩy tiếng rưỡi không đi đến đâu. Kissinger tin rằng Hà Nội hiện đang đối diện với sự lựa chọn khó khăn – hoặc dàn xếp bây giờ rồi sẽ hên xui đoạt lấy kiểm soát chính trị ở MNVN, hoặc chờ để rồi sẽ gặp cơn thịnh nộ của Nixon sau khi bầu cử. Ông tin tưởng MBVN sẽ chịu hòa bình trước tháng Mười Một.

  Cho dù Kissinger có lạc quan, Nixon vẫn nhất định chờ cho đến sau bầu cử. Trong một thư viết tay cho Haig, Nixon tuyên bố “Al, rõ ràng là không và cũng không mong có tiến triển nào.” Nixon nghĩ là Đảng Dân Chủ sẽ tấn công vì ông thất bại trong việc chấm dứt chiến tranh. Nhưng John Conally khuyên Nixon đừng để ý đến những lời phê bình của họ, ông nói “Cuộc chiến đâu có làm hại mình...Chúng ta phải tập trung vấn đề vào Việt Nam vì nó có lợi cho mình.” Nixon xem hoà đàm Ba Lê như là một phương thức để chống đỡ bèm nhèm của bên phản chiến. Ông nói với Haig “Hòa đàm trôi chảy” trong lúc này vì nó đang kềm giữ bên tả, những ngườì mà Haig gọi là “bọn khốn nạn ở trong nước.” Nixon nói “Mình đang chơi trò rất thông minh” và “Kissinger làm tụi khốn nạn đó thật bối rối.”

  Trong việc chống đối dàn xếp hoà bình trước bầu cử, Nixon có một đồng minh khó khăn là TT Thiệu. Vị tổng thống MNVN này tức giận vì Kissinger đã không cung cấp cho ông những bản tường trình đầy đủ và chính xác về đàm phán Ba Lê. Mười tám năm sau, TT Thiệu kể cho Walter Isaacson nghe là Kissinger đối xử với MNVN như là một bù nhìn của Mỹ, ông nói “Kissinger không có một cố gắng để đối xử công bằng đối với chúng tôi vì ông ta quá kiêu ngạo để làm chuyện đó. Chúng tôi muốn tham dự vào cuộc thương thuyết, nhưng ông ta lén lút làm việc sau lưng chúng tôi và ít khi nào cho chúng tôi biết chuyện gì xẩy ra.”

  Kissinger hiểu rằng TT Thiệu sẽ không đồng ý cho MBVN để lại quân đội của họ trong MNVN hoặc nhường Cộng Sản một chân giám sát tổng tuyển cử qua Hội Đồng Hòa Giải Quốc gia. Do đó, Kissinger đã dấu nhẹm TT Thiệu về những đề nghị này nhưng khi bị lộ vào lúc Kissinger viếng Sài Gòn vào tháng Tám, TT Thiệu gián tiếp chống đối. Lối hành xử không ngoại giao như hủy các buổi họp và đến trễ đã chứng tỏ ông không hài lòng về chuyện đó. Ông thất vọng về sự tùy thuộc vào người Mỹ cũng như về những nhượng bộ của họ. Kissinger nói sau này “Thất lễ là cái áo giáp của kẻ yếu, nó được dùng để tự tạo nên can đảm khi người ta hoảng hốt.”

  Kissinger nhớ lại là ông “rời Sài Gòn với một tâm trạng tưởng là đã đạt được tâm đầu ý hợp.” Ông tự biện hộ cho việc ngăn cản của TT Thiệu là sản phẩm của những khác biệt văn hóa hơn là sự chống đối thật sự của MNVN đối với nhượng bộ. Tuy nhiên, Nixon hiểu sự chống đối của TT Thiệu là gì, đó là nhất định tránh một thỏa thuận với MBVN cho đến khi họ bị thua trận.

  Chẳng bao lâu sau đó Nixon gửi TT Thiệu một lá thư với mục đích chỉ có thể khuyến khích ông đừng thoả hiệp với MBVN. Ông bảo đảm với TT Thiệu “Hoa Kỳ đã không kiên trì cho đến giờ phút này với sự hy sinh của quá nhiều nhân mạng người Mỹ để quay ngược đường đi trong những tháng cuối cùng của 1972. Điều này thì tôi sẽ không bao giờ làm.” TT Thiệu cho rằng Nixon, cũng như ông, muốn làm Hà Nội nhượng bộ.

  Mặc dù nhất định chờ cho đến sau bầu cử để tạo hòa bình, Nixon đồng ý để Kissinger trở lại Ba Lê vào tháng Chín. Những thăm dò dân chúng đã thuyết phục ông đừng bỏ hoà đàm: theo một thăm dò của viện Gallup, 81 phần trăm dân chúng thích ứng cử viên nào chấm dứt chiến tranh. Những lời hứa của ứng cử viên McGovern về chuyện đó làm Nixon không yên tâm bỏ thương thuyết. Một thăm dò khác của Gallup cho thấy vấn đề hoà đàm đổ vỡ vì muốn giữ TT Thiệu tại chức chỉ lôi cuốn 29 phần trăm người Mỹ. 40 phần trăm sẵn sàng thấy một chính phủ liên hiệp và 21 phần trăm không cần biết ai cai trị ở MNVN.

  Để kiếm phiếu, Nixon bảo Stewart Alsop hôm 22 tháng Tám “Cuộc chiến sẽ không ám ảnh chúng ta trong nhiệm kỳ thứ nhì.” Một phóng viên hỏi Nixon một cách thẳng thừng trong cuộc họp báo hôm 29 tháng Tám “Lời tuyên bố đó chỉ là trò chính trị hay nó có giá trị gì không?” Nixon công nhận thương thuyết không được thông xuốt nhưng ông nhấn mạnh là sự thành công của Sài Gòn chống trả cuộc tổng tấn công của Hà Nội đã làm gia tăng viễn cảnh cho một dàn xếp. Hơn nữa ông tuyên bố rút 12 nghìn quân nữa và giảm số quân Mỹ ở Việt Nam xuống còn 27 nghìn quân. Ông bị chất vấn “Phải chăng ông không đạt đến lời hứa chấm dứt chiến tranh trước khi hết nhiệm kỳ? Có cơ hội nào nước Hoa Kỳ sẽ còn tiếp tục dội bom MBVN trong hai ba năm nữa?” Ông trả lời rằng ông đã chu toàn hầu hết mục đích chấm dứt sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam. Ông gọi những giả thuyết ông sẽ tiếp tục dội bom là “lố bịch.” MNVN hoàn toàn đủ sức tự bảo vệ họ.

  Với việc xấu xa Watergate có vẻ như êm thắm trong tháng Chín, Việt Nam là vấn đề mà Nixon nghĩ có ảnh hưởng nguy hại đến cuộc tái trúng cử của ông. Ông tiếp tục lo sợ có một thỏa thuận hòa bình mà nó có thể đem đến lời dèm pha đây là một phản bội yếu hèn để bảo đảm trúng cử. Nhưng với lý do hoàn toàn khác hẳn, TT Thiệu chia sẻ sự cương quyết của Nixon về tránh né một hòa giải nhanh chóng. Trong tình huống tréo ngược này, Kissinger và MBVN lại xếp hàng theo bên hoà bình. Như Kissinger đã đoán trước, vào tháng Chín, Hà Nội kết luận là một hòa giải trước bầu cử có ích cho họ hơn là một dàn xếp sau tháng Mười Một bị ép buộc vì một chiến dịch dội bom của Mỹ.

  Giữa tháng Chín và tháng Mười Một, Kissinger ở trong tình trạng chiến đấu trong hai mặt trận chính trị cho hòa bình với Sài Gòn và Bạch Ốc. Khi gần đến ngày họp ở Ba Lê sắp đến vào hôm 15 tháng Chín, Kissinger cố gắng thuyết phục Nixon bỏ qua những chống cự về thỏa thuận từ Sài Gòn. Haig cho Kissinger biết là Nixon “rất ngần ngại” nghe theo lời khuyến cáo của ông. Sự chống cự của Nixon dựa vào kết quả thăm dò ý kiến cho biết “Dân chúng Mỹ muốn rời Việt Nam với một cảm tưởng thắng trận” (hoặc Nixon muốn tin như vậy). Ông ta sẵn lòng để Kissinger hòa đàm trở lại, nhưng với điều kiện là phải lập thành tích để hấp dẫn bên diều hâu hơn là bên bồ câu.

  Kissinger cho buổi họp hôm 15 tháng Chín với Lê Đức Thọ như là màn mở đầu dẫn đến một thỏa thuận cuối cùng. Kissinger nói cho Nixon rằng Thọ đề nghị hoàn tất một thỏa thuận trước ngày 15 tháng Mười. Khi Kissinger đồng ý về điều đó, Thọ từ bên kia bàn chìa tay ra bắt và nói “Cuối cùng thì chúng ta cũng đồng ý về một điều, chúng ta sẽ chấm dứt chiến tranh vào ngày 15 tháng Mười.” Những bản tin đưa ra nghi ngờ về khả năng của tổng thống đem lại hòa bình danh dự trước nhiệm kỳ thứ hai bắt đầu làm Nixon chịu hòa đàm thêm ở Ba Lê. Ông sợ cú đòn ngạc nhiên trong tháng Mười tạo ra bởi McGovern và Hà Nội có thể làm ông thất cử. Nhất là MBVN có thể mời McGovern đến Hà Nội để trao trả một nửa hay hơn số tù nhân chiến tranh, điều này cho thấy Đảng Dân Chủ có khả năng đạt đến thỏa thuận hơn. Sự quan tâm của Nixon nói nhiều về bản tính đa nghi và ham thích chính trị bất lương của ông hơn là những thực tế chính trị.

  Tại buổi họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia hôm 20 tháng Chín, Nixon nói sẽ không cắt TT Thiệu và “chúng ta sẽ chấm dứt chiến tranh với tự trọng.” Hội đồng đã không đoán trật là Kissinger tiếp tục hòa đàm Ba Lê, nhưng họ sẽ không phản bội TT Thiệu hoặc sẽ đạt đến một thỏa thuận cho đến khi họ đánh gục MBVN trong những ngày sau bầu cử.”

  Kissinger trở lại Ba Lê làm căng thẳng thêm giữa ông và Nixon. Sau hai ngày họp vào cuối tháng Chín, ông về nước với tâm trạng lạc quan nâng cao. Không những cuộc đối thoại xẩy ra trong một khung cảnh thân thiện hơn mà Thọ và Thủy còn nài nỉ hoàn tất một thỏa thuận trong khoảng thời gian một tháng, hy vọng trong ba ngày đã được dàn xếp trước để bàn thêm bắt đầu vào ngày mùng 8 tháng Mười. Kissinger hiểu là TT Thiệu sẽ không thích viễn ảnh có một dàn xếp vào tháng Mười nhưng ông hy vọng là một buổi họp đối diện sẽ làm TT Thiệu mềm lòng hoặc ngay cả hết chống cự. Vì tin rằng TT Thiệu sẽ làm hỏng kế hoạch của Kissinger, Nixon đồng ý để ông trở lại Sài Gòn. Haldeman ghi lại “Về bầu cử, tổng thống cảm thấy chắc chắn là điều tốt hơn hết là chúng ta duy trì điều kiện hiện tại.”

  Kissinger vẫn không hiểu tại sao Nixon lo là thỏa thuận sẽ làm nguy hại đến tái trúng cử trong khi đó một thăm dò ý kiến cho thấy ông đang dẫn trước 39 điểm. Hơn nữa, vấn đề có thể xẩy ra với dư luận quốc nội và Quốc Hội vì chiến dịch không kích sau bầu cử đã tạo cho một thỏa thuận vào tháng Mười có phần hấp dẫn đối với Nixon, nhưng không đủ để thuyết phục ông làm “hòa bình nhanh chóng.”

  Nixon muốn TT Thiệu ngăn cản một thỏa thuận vào tháng Mười, nhưng ông cũng muốn sự ngăn cản này kéo dài đến một dàn xếp sau bầu cử. Ông bảo Kissinger và Haig rằng TT Thiệu không nên “nghĩ là vì tôi trúng cử nên nước Mỹ sẽ sát cánh bên ông ta qua dầu sôi lửa bỏng. Cuộc chiến này sẽ không kéo dài đâu. Khốn nạn! không thể thế được...Chúng ta không thể để nó làm hại đến quan hệ của Mỹ với Trung Quốc và Nga Sô...Chúng ta phải trút bỏ cuộc chiến này.”

  Nixon hy vọng cuộc không kích mới trên MBVN sẽ thuyết phục TT Thiệu là MNVN sẽ được yên ổn không bị một cuộc tấn công tức thời nào từ Hà Nội. Tuy nhiên, Nixon muốn bảo đảm TT Thiệu đi theo sự chỉ dẫn của ông. Hôm mùng 4 tháng Mười, trong một buổi họp với Haig và Bunker, TT Thiệu và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia của ông từ chối ủng hộ một dàn xếp với những điều kiện để thành lập một ủy hội cho phép Cộng Sản có tiếng nói chính trị trong tương lai của MNVN và để quân đội MBVN được ở lại MNVN. Những bài tường thuật về TT Thiệu cư xử như đứa bé bất mãn, với nước mắt vòng quanh khi diễn tả những điều mà ông cho là phản bội xứ sở của ông không làm Nixon khó chịu bằng lời ông cảnh cáo là nếu người Mỹ thi hành thì “chúng tôi sẽ bị bó buộc làm sáng tỏ và bảo vệ quan điểm của chúng tôi về vấn đề này.”

  Nixon và Kissinger hoàn toàn bi quan về bất cứ dàn xếp nào đã đạt được với Hà Nội và về quan hệ tương lai giữa Hoa Kỳ và Sài Gòn. Kissiner nói với Nixon rằng nếu một thỏa thuận hòa bình được ký, “Tôi tin những kết quả thực tiễn sẽ là một cuộc ngưng bắn và trao trả tù binh.” Nixon xen vào “Rồi mình sẽ kệ mẹ chúng nó.” Kissinger đồng ý “Tôi nghĩ rồi họ sẽ đánh nhau khi Thiệu còn cầm quyền.”

  Nixon bảo đảm chắc chắn với TT Thiệu là nước Mỹ sẽ không chụp lấy một dàn xếp nào vào tháng Mười. Nhưng ông cũng muốn làm sáng tỏ là TT Thiệu sẽ không được đưa ra điều kiện và thời điểm sau cùng cho một dàn xếp. Nixon đe dọa cơ nghiệp chính trị, nếu không muốn nói sinh mạng của TT Thiệu. Ông viết cho TT Thiệu “Tôi khuyến cáo ông nên thi hành mọi biện pháp để tránh đi đến tình trạng có thể đưa đến những biến cố tương tự mà chúng tôi không ưa vào năm 1963.” Thông điệp dành cho TT Thiệu không thể nào rõ ràng hơn được nữa, đó là: Nếu ông cãi tôi, tôi sẽ không ngần ngại lật đổ ông giống như TT Diệm và tước sinh mạng của ông ta vào tháng Mười Một năm 1963. Một thông điệp ngầm nữa là: Ông có thể giúp tôi ngăn chặn một thỏa hiệp bây giờ, nhưng khi tôi bảo ông ký vào một thỏa hiệp sau này, ông nên nghe lời.

  Kissinger vẫn còn ấm ức với sự chống đối của Nixon về một dàn xếp trong tháng Mười. Haldeman ghi lại là vào hôm mùng 3 và 4, với tin TT Thiệu chống lại một thỏa thuận, Kissinger “nổi giận lôi đình” về đề nghị Nixon họp báo để làm sáng tỏ thương thuyết và “Kissinger thật ra tin rằng Mỹ vẫn có cơ hội 50 – 50 phần trăm để đạt được một cái gì đó từ MBVN nội trong cuối tuần và ông ta sợ điếng người là Nixon sẽ làm hỏng...Nixon không cảm thấy có một cơ hội dàn xếp nào, và đằng nào điều đó cũng không nên vì bất cứ suy diễn nào về phản bội MNVN sẽ làm tổn thương hơn là giúp chúng ta.”

  Khi trở lại Ba Lê để đàm phán hôm mùng 9 tháng Mười, Kissinger đánh điện cho Nixon và khuyên ông đừng tuyên bố trước công chúng về nội dung của những cuộc hội đàm vì “Chúng ta đang ở trong thời điểm tối quan trọng.” Nixon đồng ý là không một ai trong nội các nên tuyên bố điều gì. Nhưng ông cũng bất bình với Kissinger vì ông ta không tường trình những gì đang xẩy ra. Haldeman ghi lại vào hôm mùng 9 tháng Mười là Nixon “cực kỳ không muốn Kissinger từ Ba Lê bay thẳng đến Sài Gòn và Hà Nội. Ông muốn Kissinger về lại Washington để làm một bản tường trình trước đã.”

  Để trả lời một yêu cầu cung cấp nhiều chi tiết hơn về những cuộc hoà đàm, Kissinger gửi một điện tín ngắn cho Nixon: “Thương thuyết trong vòng này quá phức tạp và nhậy cảm cho đến độ chúng tôi không thể tường trình những chi tiết của nội dung...chúng tôi biết chính xác chúng tôi đang làm gì, và giống như chúng tôi chưa từng làm ông thất vọng trong quá khứ, chúng tôi sẽ không làm như vậy bây giờ.” Nixon không chất vấn Kissinger khi ông ta đòi hỏi tự do thương thuyết và ông không có ý định cãi nhau trước công chúng với Kissinger. Nếu ông bất tử gọi Kissinger về từ Ba Lê, ông tin rằng điều đó sẽ làm nguy hiểm đến sự lôi cuốn cử tri của ông như là một sứ giả hòa bình. Ông cũng không cần thẳng thắn chống đối thỏa thuận hoà bình do Kissinger soạn thảo vì ông tin tưởng có thể dùng TT Thiệu để ngăn cản tất cả những gì Kissinger đề cử ở Ba Lê.

  Kissinger tin rằng những nhượng bộ của MBVN trong những buổi họp giữa ngày mùng 8 và 11 tháng Mười chắc chắn đem lại một dàn xếp trước ngày bầu cử tổng thống Mỹ. Sau khi nghe những gì MBVN đưa ra vào ngày mùng 8 tháng Mười, Kissinger xin phép tạm ngưng buổi họp. Ông và Winston Lord bắt tay nhau cùng nói: “Mình đạt đến đích rồi!” Theo Kissinger, đây là “giây phút xúc động nhất trong sự nghiệp của ông.” (Nhưng 32 năm sau, Kissinger nói với tác giả là Việt Nam trở thành một thất vọng lớn nhất của ông trong tám năm tại chức. Dĩ nhiên, điều này đã không trở nên hiển nhiên cho đến lúc ông chứng kiến Hà Nội xâm chiếm Sài Gòn vào năm 1975. Sự kiện này có thể làm ông thất vọng, nhưng những lời phê bình sau này là ông ngạc nhiên về khả năng sụp đổ của MNVN là chuyện khó tin.)

  Kissinger và Haig trở về Washington hôm 12 tháng Mười. Khi họ gặp Nixon trong văn phòng, Haldeman ghi lại là Kissinger tuyên bố một cách đắc thắng “Thưa Tổng Thống, Tổng Thống có ba thỏa thuận miễn phí (có nghĩa là với Nga Xô, Trung Quốc, và bây giờ Việt Nam)...Mới đầu Nixon hơi nghi ngờ.” Ông hỏi thêm chi tiết về những gì Kissinger đã đạt được. Kissinger giải thích “Kết quả thực là TT Thiệu còn tại chức. Chúng ta sẽ có ngưng bắn tại chỗ vào hôm 30 hay 31 và nó sẽ tiếp tục cho đến khi có một dàn xếp chính trị dứt khoát chấm dứt chiến tranh. Cũng sẽ có một Hội Đồng Hòa Giải Quốc Gia hoạt động theo phiếu đa số tuyệt đối, điều đó có nghĩa là TT Thiệu có quyền phủ quyết trên bất cứ gì Hội Đồng đề cử. Sáu mươi ngày sau khi ngưng bắn, Hoa Kỳ sẽ rút hết quân và móng vuốt về. Chính phủ Mỹ cũng sẽ có một chương trình giúp đỡ tái thiết nào đó cho Hà Nội. Nixon không để ý đến những điều kiện của thỏa thuận nhưng lại chú ý đến sự sẵn sàng của Hà Nội để nhận giúp đỡ của Mỹ như là một tiến triển quan trọng nhất của hoà đàm. Ông nghĩ đó là dấu hiệu ngầm là Cộng Sản công nhận chủ nghĩa của họ tồi hơn chủ nghĩa tư bản.

  Mặc dù bề ngoài trong hài lòng, Nixon tiếp tục tin rằng an ninh của MNVN trong tương lai tùy thuộc vào không tập kéo dài để giới hạn hành động xâm lăng của Hà Nội sau khi có thỏa thuận. Ông thổ lộ sự chống đối thỏa thuận hòa bình của Kissinger bằng cách tỏ vẻ không thích nghe “những chi tiết.” Haig nghĩ là cuộc dàn xếp cũng được nhưng lo lắng làm sao để TT Thiệu chấp thuận. Nixon thì thấy đó là điều không thể xẩy ra, ông tin rằng TT Thiệu sẽ bác bỏ thỏa thuận.

  TT Thiệu vẫn là người đóng vai chính trong việc đình trệ thỏa thuận cho đến sau ngày bầu cử mùng 7 tháng Mười Một. Với Kissinger sắp đặt ngày trở lại Ba Lê để thắt chặt thỏa thuận rồi đi Sài Gòn để gặp TT Thiệu, Nixon muốn Haig hay Haldeman đi theo để ngăn ngừa Kissinger không bắt nạt TT Thiệu. Nhưng Kissinger không chịu và khuyến dụ Nixon để ông ta mang theo William Sullivan của Bộ Ngoại Giao, người mà Haldeman cho là thuộc hạ của Kissinger.

  Nixon càng ra mặt chống đối thúc đẩy thỏa thuận của Kissinger hơn sau khi Kissinger trở lại Ba Lê vào ngày 17 tháng Mười và tường trình cho Nixon là ông và Lê đức Thọ đã giải quyết xong hầu hết mọi vấn đề. Haig đánh điện cho Kissinger tối hôm đó: “Tổng Thống nhất định không đi đến giai đoạn kế tiếp trừ khi bảo đảm có sự đồng lòng chắc chắn và ủng hộ hoàn toàn của TT Thiệu.”

  Hôm 19 tháng Mười, khi Kissinger đến Sài Gòn, Nixon gửi cho ông một tin nhắn với mưu toan thần sầu cốt để phụng sự tranh cử và một MNVN tự trị. Nixon sai Kissinger nói với TT Thiệu là ông ủng hộ thỏa thuận hòa bình vì quyền lợi tối đa cho MNVN (Nếu dân chúng biết về tin nhắn này, không ai có thể cãi là Nixon không mong mỏi hòa bình.) Cùng lúc đó, Nixon bảo đảm với TT Thiệu là nếu Hà Nội bội ước trong tương lai, “Tôi sẽ không nhần ngại sử dụng mọi biện pháp thích nghi để xoay ngược tình thế.” (Không một người Mỹ bảo thủ nào có thể kết án Nixon bỏ rơi một đồng minh chống cộng trung thành.)

  Tuy vậy, Kissinger được dặn trước là ông không thể ép TT Thiệu chịu thỏa thuận. Nixon không có ý định để McGovern được tiếng thơm là dàn xếp trước bầu cử là sự xác nhận quan trọng về tranh cử cho hòa bình của McGovern. Nixon bảo Kissinger “Không nên để sứ mạng của cậu bị TT Thiệu nghĩ là ép buộc, vì nó có thể bị xem như là có dây dưa đến bầu cử trong nước của tôi.”

  Kissinger gặp một chống đối mãnh liệt từ TT Thiệu. Khi đến văn phòng của TT Thiệu, ông được dẫn đến phòng hành quân. Ở đó TT Thiệu đã tụ họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và họ đã nhận được một bản báo trước của thỏa thuận hòa bình dưới hình thức tài liệu tịch thu từ quân lính MBVN. TT Thiệu giận tím mặt vì chỉ biết được dàn xếp của Kissinger qua tài liệu của Cộng Sản, và ông còn giận hơn nữa vì những điều khoản trong thỏa thuận cho phép quân MBVN được ở lại trong MNVN. Kissinger tả lại là ông phải mang một bộ mặt đẹp nhất trong ba tiếng rưỡi đàm phán căng thẳng và đầy xúc cảm. Ông tường thuật “tôi không thể đoán là TT Thiệu sẽ ngả theo chúng tôi hay không.”

  Đúng ra, như TT Thiệu kể lại sau này, “Tôi muốn đấm vào mõm Kissinger.” Hoàng Đức Nhã, người cháu và cũng là tùy viên báo chí phụ họa với cơn tức giận của TT Thiệu. Nhã, một người trẻ tuổi trạc 30, từng du học bên Mỹ, với điệu bộ học từ phim ảnh Hollywood, sau khi nghe Kissinger diễn thuyết trong nửa tiếng, giận dữ phản đối vì được cung cấp một phó bản của hiệp ước bằng tiếng Mỹ. Ông tuyên bố “Chúng tôi không thể thương thuyết vận mạng của quốc gia chúng tôi bằng ngoại ngữ.” Ông đòi hỏi phải có bản bằng tiếng Việt. Sau khi đọc xong, ông đòi phải giải thích 64 điểm, nhất là về quân MBVN ở lại trong MNVN, Hội Đồng Hòa Giải, và phản ứng có thể của Hoa Kỳ nếu thỏa thuận tan vỡ.

  Nixon lợi dụng những đòi hỏi của TT Thiệu để đánh điện cho Kissinger hay rằng không thể có một dàn xếp nào trước bầu cử. Nó có thể có “một rủi ro cao làm thiệt hại quan trọng cho tình huống quốc nội Mỹ, nếu cuộc dàn xếp làm cho dân chúng buộc tội chúng ta hiện nay có một dàn xếp xấu hơn là một dàn xếp có thể đạt được nếu chúng ta chờ cho đến khi sau bầu cử.” Sau ngày mùng 7 tháng Mười Một, chính phủ Mỹ sẽ ở trong cương vị mạnh hơn để ép buộc TT Thiệu nếu cần. Nixon muốn Kissinger bảo TT Thiệu là “nếu ông ta vẫn cưỡng lại tất cả những cố gắng dàn xếp xung đột...Nước Mỹ sẽ bị bó buộc đi tìm những thỏa hiệp song phương với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [MBVN], điều mà có thể hy sinh tất cả những gì chúng ta đã nhọc nhằn chung sức với nhau để đạt đến.”

  Vì Nixon sợ Kissinger thuyết phục được TT Thiệu và buộc ông ta chịu dàn xếp ngay, ông sai Haldeman “nhanh chóng thăm dò ý kiến dân chúng xem họ có mong thấy một dàn xếp về Việt Nam trước bầu cử hay không.” Tháng Mười Một gần đến nơi, chủ ý quan trọng nhất của Nixon không nhằm vào những điều kiện của thỏa thuận chấm dứt chiến tranh nhưng vào những hậu quả của nó trên sự hấp dẫn lá phiếu của ông.

  Làm bộ như không biết gì về những điểm dị biệt giữa Kissinger và TT Thiệu, Nixon hỏi Haig hôm 22 tháng Mười Một “Thiệu đòi hỏi những gì?” Haig trả lời “Ông ta muốn một số thay đổi về việc chúng ta rút quân khỏi MNVN.” Nixon nói “Không được đâu!” Điều này gợi ý cho thấy Nixon chưa bao giờ để ý nhiều đến điều kiện then chốt của dàn xếp mà hầu như chắc chắn khuấy động sự chống đối của TT Thiệu. Haig nói cho Kissinger là mặc dù Haig đưa tất cả những điện tín của Kissinger gửi đi từ Sài Gòn cho Nixon xem, nhưng “hầu hết” ông ta không đọc. Chủ yếu của Nixon là một dàn xếp bảo đảm sự tự do của Sài Gòn trong khoảng thời gian ngắn hoặc cho đến khi ông được tái cử và một kết quả mà nó không được xem như là một thất bại của ông hay của nước Mỹ.

  Kissinger nản chí và giận điên lên vì Nixon không để ý đến đàm phán ở Sài Gòn cộng với sự chống cự thỏa thuận của TT Thiệu. Tại một buổi họp hôm 22 tháng Mười, TT Thiệu nhất quyết từ chối ký vào hiệp định Ba Lê. Kissinger đánh điện cho Nixon “Thiệu vừa mới bác cả chương trình hay bất cứ sửa đổi nào, những đòi hỏi của ông ta gần như là điên loạn.”

  Sau khi trở lại Washington, Kissinger không còn gì khác ngoài khinh khi tất cả người Việt Nam ở sau lưng họ. Ông nói với Nelson Rockefeller “Lũ điên ở Sài Gòn không chịu hợp tác...Có hai giải thích: hoặc họ mất trí hoặc rồi họ sẽ nhượng bộ...Tôi không thể tự nhiên đến để đưa cho họ cái gì.” Kissiger cũng không tha những người MBVN: “Người Việt Nam, cả Bắc lẫn Nam, thật bịnh hoạn...Không ai dám chắc là một trong hai sẽ không làm chuyện tự sát.” Ông nói với Rogers “Cả hai đều điên cuồng.”

  Sự chống cự của TT Thiệu khiến Kissinger dọa nạt. Ông ta cảnh cáo TT Thiệu “Nếu ông không ký, chúng tôi sẽ có đi đường riêng của chúng tôi.” Kissinger hỏi Hoàng Đức Nhã, người đang dịch “Tại sao Tổng Thống của ông đóng vai liệt sĩ như thế?” TT Thiệu trả lời “Tôi không muốn trở thành một liệt sĩ. Tôi là người theo chủ nghĩa dân tộc.” Kissinger cho thấy mối quan tâm về thất bại cá nhân của ông buộc vào quyết định của TT Thiệu khi nói “Đây là thất bại lớn nhất của sự nghiệp ngoại giao của tôi.” TT Thiệu hỏi một cách khinh bỉ “Tại sao? Ông vội đi lãnh giải Nobel?”

  Mục đính hiện giờ là tạo ra cái vẻ có tiến triển trước dư luận mặc dù những viễn cảnh dàn xếp ngay lập tức đã sụp đổ. Kissinger dụ TT Thiệu để có một buổi họp ngắn ngủi vào sáng hôm 23 tháng Mười khi ông sửa soạn về lại Washington. Điều này sẽ khiến báo chí đồn là họ đã có “một giải pháp trong tay.” Khi một phóng viên tại phi trường hỏi ông phải chăng chuyến đi thành công, Kissinger trả lời “Đúng, luôn luôn là vậy khi tôi đến đây.”

  Trên đường về Mỹ, Kissinger đề nghị với Nixon cho ông gặp Hà Nội ở Ba Lê lần nữa để dàn xếp những vấn đề đưa ra bởi MNVN. Lịch trình Kissinger đề nghị bây giờ sẽ lấn qua ngày bầu cử. Haig trả lời ngay lập tức là Nixon đồng lòng với thời khoá biểu của Kissiger. Ông hy vọng là “chúng ta có thể duy trì bầu không khí tiến triển cho đến ngày mùng 7 tháng Mười Một.” Nixon càng ghét có một thỏa thuận tức thời khi nghe tin bên Đảng Dân Chủ sẽ chỉ trích một dàn xếp trước bầu cử là nó không khá hơn gì một dàn xếp đáng lẽ ra nên được sắp đặt ba năm rưỡi trước.

  Kissinger phát động chiến dịch báo chí nội trong vài tiếng khi đặt chân đến Washington hôm 23 tháng Mười. Vì ông từ chối cho các phóng viên biết bất cứ chi tiết nào về tình trạng thương thuyết hiện nay, mục đích duy nhất để trò chuyện với họ là khuyến khích một quan điểm là đàm phán vẫn đang tiến triển và sẽ đem đến một dàn xếp trong tương lai gần. Kissinger nói với tùy viên báo chí Ron Ziegler “Mình nên trông lạc quan” khi họ đồng ý sắp đặt một cơ hội chụp ảnh hôm 24 tháng Mười. Nixon dục Kissinger nói chuyện với Bill Buckley vì “vấn đề của chúng ta bây giờ là phe tả.” Kissinger bảo Buckley là Mỹ đang làm nhiều tiến triển quan trọng về “hoà bình trong danh dự” chứ không phải “hòa bình với đầu hàng.”

  Hôm 24 và 25 tháng Mười, Sài Gòn và Hà Nội tiết lộ những điều khoản của thương thuyết. TT Thiệu xỉ vả một hòa bình giả tạo trong khi Hà Nội yêu cầu Nixon giữ lời hứa ký thỏa thuận trước ngày 31 tháng Mười. Những lời tuyên bố của cả hai bên Việt Nam tạo cho Nixon cơ hội để khẳng định ông đã làm nhiều bước tiến quan trọng để chấm dứt chiến tranh. Khác với thông lệ hành chính (vì Kissinger có giọng tiếng Đức), Nixon ra lệnh Kissinger tổ chức một cuộc họp báo truyền hình hôm 26 tháng Mười. Ông không thể chống cự lại ý tưởng dùng Kissinger trước báo chí và công chúng để thổi phồng tiến triển hòa bình của họ.

  Kissinger dùng cuộc họp báo để trả lời cho cả hai miền Việt Nam và để thuyết phục cử tri là chính phủ Mỹ sắp sửa tạo nên hòa bình. Ông tuyên bố “Thưa quý vị, chúng ta đã nghe tử hai phía Việt Nam, và điều hiển nhiên là cuộc chiến dai dẳng trong mười năm qua đang đến hồi kết thúc.” Ông nói cuộc họp báo này là do tổng thống chỉ đạo và sau đó tuyên bố “Chúng tôi tin là hòa bình đang ở trong tay.” Sau này, Kissinger cắt nghĩa mục đích của ông là bó buộc TT Thiệu và những người thuộc Đảng Cộng Hòa chấp nhận thỏa thuận và để trấn an Hà Nội là những điểm dị biệt còn lại tương đối không quan trọng.

  Tuy nhiên, Kissinger không nói gì về phụng sự viễn cảnh trúng cử của Nixon bằng cách thuyết phục cử tri là tổng thống đã tôn trọng lời hứa chấm dứt chiến tranh. Hơn hai năm sau đó, Kissinger cố gắng bào chữa với McGovern là những lời tuyên bố của ông không được thúc đẩy bởi lý do chính trị nhưng chỉ thuần về những quan tâm chính sách ngoại giao.

  Charles Colson, chiến lược gia về bầu cử của Bạch Ốc nói với Kissinger là cuộc họp báo của ông rất lỗi lạc. Ông nói “Thần sầu! Không cần biết những gì xẩy ra từ giờ cho đến mười ngày nữa, bầu cử coi như xong. McGovern thua rồi!” Nhưng không phải ai cũng khen thành quả của Kissinger và chính phủ. Với những chi tiết của thỏa thuận như cho phép quân MBVN ở lại trong miền Nam và Cộng Sản được quyền quyết định tương lai chính trị của MNVN, các phóng viên tham dự cuộc họp báo của Kissinger muốn biết tại sao dàn xếp này không được làm vào năm 1969. Dù Kissinger chối điều đó không thực tiễn, câu hỏi đó trở thành điểm tấn công thường xuyên của những người chỉ trích cho rằng Nixon và Kissinger không gặt hái được gì hơn vào năm 1972-1973 so với những gì họ đã có thể đạt được bốn năm trước đó.

  Haldeman ghi lại hôm 28 tháng Mười “Trong mười ngày sắp đến, vấn đề quan trọng bây giờ là đừng cho cái gì nổ bùng từ miền Bắc cũng như miền Nam Việt Nam để chúng ta không phải đối diện với một phản ứng tiêu cực từ đâu đến trước khi bầu cử.” Để giữ Sài Gòn im lặng, Nixon viết một lá thư để dỗ dành TT Thiệu. Ông cho cuộc họp báo của Kissinger có ý can ngăn những dị nghị cho TT Thiệu là “một trở ngại cho hòa bình gây ra ngân khoản tài trợ không tránh bị cắt đứt bởi Quốc Hội.” Ông cảnh cáo đừng “chỉ trích không ngớt từ Sài Gòn...Tình trạng bất hòa sẽ tước đi khả năng của tôi để duy trì nền tảng ủng hộ cần thiết mà chính phủ và dân chúng của ông phải có trong những ngày sắp đến.” Kissinger sai Đại Sứ Bunker thi hành thông điệp của tổng thống. Tóm lại, hãy hợp tác với chúng tôi để chấm dứt chiến tranh và chúng tôi sẽ có thể đối phó với những xâm lấn mới của Hà Nội. TT Thiệu quá tùy thuộc vào sự giúp đỡ của Hoa Kỳ để hoàn toàn cắt đứt liên hệ với Washington.

  Hà Nội mới là điều quan tâm hơn. Nixon cố làm dịu với MBVN bằng cách giới hạn thả bom dưới vĩ tuyến mười hai, nhưng tuy thế ông và Kissinger quan ngại là họ sẽ tố cáo trước dư luận là Washington thất bại trong việc chấm dứt giao tranh. Với kết quả thăm dò ý kiến cho thấy dân chúng nghi ngờ những lời giải thích của chính phủ là thỏa thuận cần phải được điều chỉnh lần sau cùng trước khi ký, Nixon và Kissinger thở phào nhẹ nhõm hôm mùng 4 tháng Mười Một khi Hà Nội đồng ý gặp riêng lần nữa ở Ba Lê vào ngày 14 tháng Mười Một.

  Vì họ phải giữ bí mật sự đồng ý gặp riêng cho đến sau khi đã xẩy ra, Nixon nóng lòng muốn tìm cách khác để bác bỏ lời tố cáo của McGovern là tin tức về thương thuyết thêm là trò mưu mẹo, chúng ta chưa có hòa bình, và đó là lừa lọc. Ông đề nghị tiết lộ chuyện Kissinger có thể trở lại Ba Lê, và nếu có ai hỏi thì không nói gì hết. Nixon tuyên bố với cả nước là ông “hoàn toàn tin tưởng” rằng họ sắp chấm dứt chiến tranh trên điều khoản danh dự. Ông nói với Kissinger nếu Hà Nội không hợp tác sau ngày 7 tháng Mười Một, “chúng ta sẽ dội bom bọn khốn nạn đó.”

  Hôm mùng 3 tháng Mười một, trong một buổi họp báo hoàn toàn không chính thức với các phóng viên ngoại quốc, Kissinger bào chữa cho những hành động của Mỹ về Việt Nam, những lời bào chữa phần thì hiện thực, phần thì hoang đường, phần thì gian dối. Mặc dù Hà Nội biết nhiều về chính trị Hoa Kỳ, Kissinger quả quyết rằng họ không có “sự hiểu biết mạch lạc về cách hoạt động của hệ thống Mỹ.” Nhưng họ lại biết đủ về những tình trạng ở Mỹ để thấy rằng ý kiến quốc nội đã buộc Nixon vào một dàn xếp, và sự nóng lòng của ông ta làm một cuộc tấn công quân sự nữa cùng với chống đối của TT Thiệu là lý do nằm sau sự từ chối ký hiệp định trước mùng 7 tháng Mười Một. Kissinger công nhận “Hà Nội biết rõ chúng ta muốn gì.” Nhưng ông từ chối nhượng bộ rằng TT Thiệu làm kỳ đà cản mũi cho thỏa hiệp. Kissinger đổ tội một cách lừa dối là Hà Nội từ chối giúp làm sáng tỏ một số ngôn ngữ mờ ám khó hiểu mà ông tin tưởng sẽ khắc phục trong một cuộc họp khác ở Ba Lê. Một ký giả hỏi “Thế thì tại sao TT Thiệu lo lắng thế?” Kissinger nói ông ta lo âu về bị bó buộc vào “một thi đua chính trị thay vì quân sự...Ông và các cộng sự viên thoải mái hơn trong một cuộc đua quân sự hơn là với những bất định của một cuộc đua chính trị. Và dĩ nhiên, ông ta đang cố gắng chứng tỏ ông không phải là một bù nhìn của Mỹ. Hiện giờ, khi chúng ta có một dân tộc mà họ chém giết lẫn nhau trong 25 năm, chúng ta không thể trông mong họ tiếp cận một dàn xếp theo đúng sự hợp lẽ phải của tây phương.” Đừng quên rằng TT Thiệu thật sự quan ngại về sự tiếp tục hiện diện của quân Bắc Việt ở trong miền Nam và để xem Mỹ sẽ lại dùng sức mạnh quân sự hay không nếu Hà Nội mở cuộc tấn công mới.

  Kissinger cho những sự sợ hãi của TT Thiệu như bị thổi phồng quá đáng. Ông ta thấy “không có một sự bấp bênh về tình hình quân sự hiện nay.” Sài Gòn có một quân lực một triệu người và một lực lượng cảnh sát to lớn bỏ xa các lực lượng MBVN yếu đuối ở trong miền Nam. Những biến cố xẩy ra trong ba năm sau đó – Sài Gòn không thể chống lại quân lực của Hà Nội vì không có Mỹ dội bom ồ ạt đã khiến cho sự ước định của Kissinger có vẻ như hoặc cố tình đánh lừa hoặc sai lầm vô cùng.

  Được hỏi tại một buổi thuyết trình có phải ông và Nixon nghĩ về dàn xếp hòa bình khi đề nghị với MBVN một “khoảng thời gian êm thắm,” Kissinger bảo đảm với các nhà báo là “không có chuyện thoả thuận kín với MBVN về một bất cứ khoảng thời gian nào mà sau đó Hoa Kỳ sẽ không đếm xỉa đến MNVN khi MBVN mang quân xuống chiếm đóng.” Ông làm như đề nghị của Nixon với Brezhnev vào tháng Năm 1972 chuyển ý tưởng này đến Hà Nội là chưa bao giờ được thực hiện. Vì MBVN không tin vào lời đề nghị như vậy vì họ nghĩ là để đánh lừa họ vào một dàn xếp, Kissinger dường như cho đó là điểm không cần thiết nữa.

  Hôm mùng 7 tháng Muời Một, trong khi cả nước đi bầu, Kissinger viết vài dòng để cám ơn Nixon: “Thật là một đặc ân trong bốn năm qua.” Ông tự tin là Nixon sẽ thắng. Nhưng dù cho kết quả ra sao, “Nó không thể ảnh hưởng đến thành quả lịch sử là thừa hưởng một quốc gia chia rẽ, vướng víu với cuộc chiến, bản thân mất tin tưởng, hằn bởi trí thức không niềm tin để tạo cho nó một mục đích mới và khắc phục những do dự...Đó là một khích lệ khi chứng kiến sự can trường của ông trong lúc khó khăn và sự nhiệt tình của ông trên con đường cô đơn.”

  Hôm mùng 7 tháng Mười Một, Nixon thắng cử. Ông đánh bại đối thủ với số phiếu 60.7 phần trăm so với 37.5 phần trăm cho McGovern. Đó là số phiếu chênh lệch lớn thứ ba trong lịch sử bầu tổng thống Hoa Kỳ. Ông thắng trong 49 tiểu bang, Massachusetts là tiểu bang duy nhất không bầu ông.

  Trong những tuần lễ trước bầu cử và bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai, Nixon dự định chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Trừ khi ông trút bỏ cái rối ren này, điều chắc chắn là nó sẽ tiếp tục chia rẽ quốc gia và sẽ tiêu thụ sinh lực của chính phủ mà đáng lẽ có thể được dùng cho những phương diện bổ ích hơn.

  Thử thách vẫn còn là làm sao chấm dứt chiến tranh để thực hiện những hứa hẹn mang quân về và bảo đảm an toàn cho tương lai Sài Gòn. Vì TT Thiệu là chướng ngại chính cho cuộc dàn xếp, Nixon sai Haig mang một bức thư đến cho ông ta ở Sài Gòn. Haig được xem như là một chọn lựa tốt hơn vì TT Thiệu rất giận Kissinger. Kissinger xía vô bằng cách nói Haig là Nixon sẽ không chịu nổi sự tiếp tục cứng đầu của TT Thiệu. Điểm quan trọng là TT Thiệu nên hiểu rằng những người theo đảng dân chủ sẽ chiếm đa số trong Quốc Hội tới, họ sẽ từ chối giúp Sài Gòn trong tương lai trừ khi Sài Gòn đồng ý chấm dứt chiến tranh.

  Bức thư của Nixon vừa cảnh cáo vừa khiển trách. Ông tỏ vẻ “thất vọng sâu xa” về sự rạn nứt trong quan hệ giữa hai người và cho rằng những chống đối của TT Thiệu về hiệp định “không công bằng và tự hại mình.” Mặc dù hai bên sẽ cố gắng ép Hà Nội vào sửa đổi, ông cho cuộc dàn xếp là “xuất sắc” và tin rằng TT Thiệu nên ủng hộ nó và nên miêu tả thành quả của hai bên như “chiến thắng quân sự được thể hiện qua hiệp định.” Tiếp tục chống đối dàn xếp sẽ có triển vọng đem “tai họa” đến cho MNVN.

  TT Thiệu không suy suyển. Ông hỏi Haig “Ông có bao giờ thấy một hiệp định hòa bình nào trong lịch sử thế giới mà quân xâm lăng được phép ở lại lãnh thổ mà họ đã xâm chiếm không?” TT Thiệu tực tiếp trả lời cho Nixon trong một lá thư viết hôm 11 tháng Mười Một khẳng định là sự tiếp tục hiện diện của quân MBVN ở trong miền Nam sẽ đánh bại chính nghĩa của MNVN độc lập và sẽ làm những sự hy sinh của cả hai bên trở nên “vô ích.” Nixon trả lời ngay lập tức là “điều quan trọng hơn” tất cả những gì được ghi trong hiệp định là “chúng ta làm gì trong trường hợp kẻ thù tiếp tục gây hấn.” Nixon hứa “hành động trả đũa nhanh chóng và vũ bão” nếu Hà Nội vi phạm hiệp định. TT Thiệu vẫn nghi ngờ là ông có thể tùy thuộc vào sự ủng hộ quân sự của Hoa Kỳ trong tương lai.

  Chuyến trở lại Ba Lê hôm 19 tháng Mười Một của Kissinger để gặp hai phái đoàn MBVN và MNVN cho thấy những thất vọng đã biết trước. Suốt bốn ngày từ hôm 20 cho đến 23 tháng Mười Một, cả hai bên đều cho ông ấn tượng là họ càng điên hơn. Lê đức Thọ và Xuân Thủy chửi bới những yêu cầu sửa đổi dàn xếp của Sài Gòn. Thọ càu nhàu với Kissinger là Việt Nam dư biết về những người đi chiếm đóng: “Chúng tôi đã bị lừa bởi người Pháp, người Nhật, và người Mỹ. Nhưng sự lừa dối chưa từng bao giờ trắng trợn như lúc này...Ông nói chúng tôi là mọi chuyện đã xong và bây giờ ông nuốt lời. Chúng tôi phải nghĩ ông là người như thế nào?”

  Kissinger báo cho Nixon rằng MBVN “chứng tỏ tuyệt đối không nhượng bộ và thật ra còn có cương vị cứng rắn hơn...” Ông viết thêm trong một bức điện khác “Điều hiển nhiên là chúng ta không có một giải pháp có thể chấp nhận được...Rất có thể là chúng ta sẽ phải đối phó với hoà đàm đổ vỡ và nhu cầu tăng cường quyết liệt trong việc dội bom miền Bắc.” Với Hà Nội xem ra không nhượng bộ, Kissinger cố gắng thuyết phục MNVN để uyển chuyển hơn. Nhưng vô ích mặc dù Kissinger nhắc lại cho Phạm đăng Lâm, người dẫn đầu của phái đoàn thương thuyết MNVN, là Nixon có ý định xúc tiến một mình nếu MNVN không chịu thỏa hiệp. Kissinger nói với Lâm “Ông lầm to nếu ông nghĩ là sự chạm trán giữa Washington và Sài gòn sẽ có lợi cho ông...Rút cuộc ông sẽ có một cuộc nội chiến vô tận mà ông sẽ không có gì hết – không thoả thuận và cũng không có sự giúp đỡ của Mỹ.”

  Khi cuộc đàm phán bế tắc hôm 24 tháng Mười Một, Nixon sai Kissinger dọa nạt lần nữa cả hai MBVN và MNVN về những hậu quả tàn khốc. Ông phải nói cho Thọ và Thủy là tổng thống gọi ông về Washington để tham khảo và ông “sẵn sàng cho phép một cuộc không tập ồ ạt ở miền Bắc trong khi chờ đợi đàm phán trở lại.” Sau khi Kissinger nhắn lời dọa, Thọ trả lời “Hăm dọa không có hiệu quả đối với chúng tôi! Chúng tôi đã chiến đấu trong mười năm qua...Dọa nạt vô ích!...Dân tộc chúng tôi sẽ không bao giờ bỏ cuộc.”

  Nixon lập lại thông điệp quen thuộc cho TT Thiệu rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ mặc số phận của ông ta và MNVN nếu ông không chấp nhận cuộc dàn xếp đã được thương lượng trước. Nixon nói với Kissinger “Ông phải nói với Thiệu là...hoặc tin vào tôi và ký...hoặc chúng ta tiến hành một mình và kết thúc sự can thiệp vào chiến tranh.” Trong một cố gắng cuối cùng để cứu vãn đàm phán, Kissinger thuyết phục MBVN dời buổi họp nữa cho đến hôm mùng 4 tháng Mười Hai trong khi Nguyễn phú Đức, phụ tá đặc biệt về ngoại giao cho TT Thiệu đi Washington để họp trực tiếp với Nixon.

  Cả hai MBVN và MNVN đều xem những cảnh cáo của Nixon là những lời nói rỗng tuếch. Hà Nội không gạt bỏ điều có thể xẩy ra là sẽ bị ăn bom trở lại, nhưng họ tiếp tục giả sử là cùng những áp lực mà nó đã buộc Washington chấp nhận một thỏa hiệp, sẽ giới hạn sự tự do của Nixon dùng quân lực trong tương lai. Có thể một cuộc náo động trong nước chống dội bom trở lại sẽ buộc Nixon trở về bàn hòa đàm. Nixon không bất đồng ý kiến về điều này. Hôm 24 tháng Mười Một, ông nói với Kissinger và Haig là “một cuộc không tập mãnh liệt trên MBVN là một chọn lựa có rủi ro cao mà nó sẽ dồn chúng ta vào một góc tường quan hệ quần chúng...Cái giá về dân chúng ủng hộ sẽ rất đắt. Tuy nhiên, chúng ta phải chịu đòn và đi đến cùng.”

  Thông điệp của Nixon cũng không giải quyết tình trạng tiến thoái lưỡng nan của TT Thiệu. Nếu ông ký vào một thỏa hiệp mà nó cho Hà Nội một lợi thế quân sự, sự chống đối trong nước Mỹ sẽ có thể làm Nixon không thể cung cấp thêm gì hơn ngoài hỗ trợ quân sự bị giới hạn. Những nghi ngờ của TT Thiệu về khả năng quân đội của ông chống trả một cuộc tấn công nữa từ MBVN mà không có yểm trợ hoả lực từ Mỹ đặt ông vào một cương vị khó xử. Nếu ông không ký, có thể Mỹ sẽ bỏ rơi ông. Nếu ông ký, Washington cũng sẽ không thể cung cấp những giúp đỡ kéo dài mà chính phủ và quốc gia của ông cần để tồn tại. Cách tốt nhất là chụp lấy cơ hội trách Hà Nội làm đàm phán thất bại và hy vọng người Mỹ, dù với tất cả những mất mát của họ, sẽ không bỏ cuộc để đi đến một cuộc bại trận cho MNVN và Hoa Kỳ.

  Dù hy vọng mỏng manh là ông có thể ép Sài Gòn hay Hà Nội vào dàn xếp, Nixon thấy ít triển vọng là một trong hai sẽ nhượng bộ. Ông thực tế hơn về sự chống đối thoả thuận của TT Thiệu. Nguyễn phú Đức đưa cho Nixon một lá thư của TT Thiệu. Bức thư lập lại sự từ chối cho phép quân MBVN ở lại trong Nam của ông và khẩn cầu Nixon thuyết phục Quốc Hội đùng cắt viện trợ. Nixon trả lời bằng cách nhắn Đức là ông không thể kiểm soát Quốc Hội Mỹ nếu không có một thỏa hiệp. Điều quan trọng hơn là Nixon bảo đảm với Đức là thỏa hiệp sẽ thiết lập cơ sở cho những hành động quân sự mới nếu Hà Nội phản ước. Vì nghe những điều này nhiều lần trước đó, Đức không suy suyển và lập lại đòi hỏi của chính phủ MNVN là MBVN phải rút quân về hết. Kissinger bảo đảm với Đức là lời hứa của Nixon sẽ là một phần của hồ sơ hoà đàm chính thức.

  Nixon thấy cuộc họp không có kết quả gì. Vào chiều hôm đó, Nixon nói với Haldeman là MNVN có vẻ như quyết định tự đi một mình. Ông nghĩ là bây giờ không thể làm TT Thiệu đổi ý. Điều này được xác nhận cho ông hôm sau khi TT Thiệu, qua Đức, đề nghị là Nixon cứ tiến hành tay đôi với Hà Nội và Sài Gòn sẽ tự tiếp tục đường của họ. Để trả lời, Nixon nhấn mạnh với Đức về tầm quan trọng của hợp tác với nhau, hoặc rạn nứt giữa hai quốc gia sẽ “tai hại” đến đâu. Ông nói thất bại sẽ “thảm khốc” và sẽ tương tự như “TT Thiệu tự vẫn.” Những lời cảnh cáo của ông có ngụ ý để được ghi chép vào tài liệu lịch sử hơn là nhắm vào TT Thiệu bất di bất dịch.

  Như đã được chứng tỏ trong một buổi họp với các tư lệnh hôm 30 tháng Mười Một, Nixon tin rằng chọn lựa duy nhất của ông bây giờ là đổ lỗi bế tắc cho Hà Nội và khai mào một chiến dịch dội bom ồ ạt để buộc họ đi đến dàn xếp. Nixon bảo các tư lệnh rằng thăm dò dư luận cho thấy trong khi người Mỹ “không thích chiến tranh, họ không chấp thuận đầu hàng và bẽ mặt.” Nixon ra lệnh cho các tư lệnh duyệt lại và tăng cường kế hoạch chuẩn bị bất ngờ cho những cuộc dội bom MBVN 3 ngày và 6 ngày. Những kế hoạch này nên “bao gồm đặt mìn phong tỏa Hải Phòng trở lại và dùng B-52 trên Hà Nội.” Ông muốn tấn công “Toàn diện. Không thể là một phản ứng yếu ớt mà phải là một cuộc tấn công vũ bão và có hiệu quả.” Nixon hỏi ý kiến của Laird về sự ủng hộ của quốc hội nếu thỏa thuận về Việt Nam thất bại. Laird trả lời rằng sẽ không thể có sự ủng hộ của quốc hội nữa. Nixon tiên đoán là “viện trợ sẽ bị cắt trong hai tuần tới.”

  Nếu Nixon đọc kỹ những thăm dò dư luận và gạt bỏ những thành kiến là người Mỹ muốn chiến thắng trước khi rút quân, ông sẽ thấy ông chỉ có thể hy vọng ít ỏi là người Mỹ sẽ ủng hộ dội bom trở lại để giữ chính phủ TT Thiệu và chống trả MBVN xua quân chiếm đóng miền Nam. Cuộc thăm dò vào tháng Chín cho thấy chỉ có 21 phần trăm dân Mỹ muốn TT Thiệu tiếp tục cầm quyền, 32 phần trăm chống và 47 phần trăm không có ý kiến. Khi được hỏi người Mỹ muốn thấy chính phủ nào ở Sài Gòn sau khi quân Mỹ rút về, chỉ có 29 phần trăm muốn thấy chế độ MNVN, 40 phần trăm thích một chính phủ liên hiệp, và 21 phần trăm nói không có gì khác biệt.

  Vào cuối tháng Mười Một, một cuộc thăm dò cho thấy 47 phần trăm nghĩ MNVN sẽ thiếu phương tiện để chống lại áp lực của Cộng Sản sau khi người Mỹ rút về, trong khi đó 31 phần trăm hy vọng Sài Gòn sẽ có thể chống trả MBVN. 37 phần trăm người Mỹ muốn tiếp tục viện trợ quân sự sau chiến tranh; nhưng sự bi quan về tương lai của Sài Gòn và quan ngại về tốn kém của Mỹ cho một chính nghĩa được xem như vô vọng đã làm 52 phần trăm ngả về cắt đứt viện trợ.

  Hôm mùng 4 tháng Mười hai, Kissinger trở lại Ba Lê với hy vọng là ông có thể vớt vát hứa hẹn một hiệp định giữa hai bên. Ông có ý định nói cho MBVN là nếu họ không dàn xếp, Mỹ sẽ tiếp tục gia hạn dội bom, và cảnh cáo MNVN là nếu họ không đồng ý hòa bình thì Mỹ sẽ bỏ rơi họ. Khi Kissinger tường trình cho Nixon là buổi họp trong ngày đầu với MBVN không đi đến đâu và ông nghĩ là Nixon nên lên truyền hình để huy động dân chúng Mỹ về việc nới rộng oanh tạc Hà Nội. Thay vào đó, Nixon ra lệnh cho Kissinger tiếp tục hòa đàm với mục đích để “chứng tỏ càng rõ càng tốt là MBVN chịu trách nhiệm về hòa đàm đổ vỡ.”

  Nixon cũng từ chối đề nghị của Kissinger là tuyên bố hòa đàm chấm dứt. Ông nghĩ là nên tạm ngưng, đổ lỗi bế tắc cho Hà Nội, và dùng dội bom mở rộng để bắt MBVN trở lại bàn hòa đàm. Một khi đã đi đến thỏa thuận, ông tin rằng ông sẽ có sự hậu thuẫn mạnh hơn từ dân chúng để dội bom MBVN sau này nếu họ vi phạm thỏa hiệp. Nếu Mỹ bỏ họp ngang xương, Nixon nghĩ là bên thiên tả sẽ kết án là ông không muốn hoà bình và họ chắc chắn sẽ huy động chống đối đáng kể từ dân chúng và quốc hội cho những cuộc oanh tạc Hà Nội sau đó.

  Tuy nhiên Nixon tin rằng dội bom Hà Nội cũng chưa đủ để đem đến một dàn xếp. Ông cần phải làm TT Thiệu nghe theo. Nixon sai Agnew đi Sài Gòn, ông nói “chuyến đi này không phải là mang sứ mạng thương lượng. Với cương vị là người dẫn đầu phe hiếu chiến, phải thuyết phục Thiệu là ông ta sẽ không có Mỹ ủng hộ nếu không làm theo.” Sau đó Agnew sẽ miêu tả kế hoạch dội bom của Nixon cho TT Thiệu nghe. Nếu Hà Nội gây hấn trở lại trong miền Nam, Nixon hứa “dùng B-52 để phá nhà máy điện, truyền thông, và số còn lại. Và đó là kế hoạch tối đa để đập MBVN – bao gồm ngay cả đê điều.” Nhưng trước khi Agnew đi, TT Thiệu đã phản ứng trước những dấu hiệu gia tăng áp lực từ Mỹ qua một bài diễn văn trước quốc hội [MNVN]. Hôm 12 tháng Mười Hai, ông tuyên bố là ông sẽ không bao giờ ký một thỏa hiệp cho phép quân lính MBVN được ở lại trong miền Nam. Trong thâm tâm, ông tỏ vẻ nghi ngờ về lời hứa của Nixon dùng dội bom MBVN để trả đũa những vi phạm hiệp định hòa bình của họ.

  Sự thách thức của TT Thiệu làm Hà Nội cứng đầu thêm. Kissinger đánh điện cho Nixon biết là trong những buổi đàm phán, MBVN trở nên “càng khôi hài và mất dậy hơn. Hà Nội hầu như không tôn trọng chúng ta vì chúng ta không còn một ảnh hưởng nào.” Nixon phản ứng lại bằng cách ra lệnh cho Kissinger về nước để tham khảo. Ông sai Kissinger bảo MBVN rằng nếu không có “những quan tâm chính trị” nào giữ lại, ông sẽ không chừa một hành động nào mà ông cho là thích hợp. “Hiện tại không ai hiểu là trong giai đoạn ngừng họp này, mỗi bên sẽ làm bất cứ gì mà quyền lợi họ đòi hỏi.”

  Thương thuyết sụp đổ làm gia tăng căng thẳng giữa Nixon và Kissinger. Nixon đổ tội thất bại cho Kissinger. Ông nói với Haldeman và Ehrlichman “Bọn MBVN nghĩ Kissinger hiện giờ đang ở trong thế yếu vì những lời tuyên bố của ông ta. Câu nói khốn nạn ‘hòa bình đang trong tay’ làm bọn MBVN bắt chẹt, họ biết là hoặc Kissinger phải phải có một dàn xếp, hoặc bị mất mặt. Đó là lý do tại sao họ chuyển sang cương vị cứng đầu hơn như thế.”

  Kissinger bất mãn và buồn rầu vì không thể đem đến một kết quả thành công cho hội đàm. Ông cảm thấy “cô đơn và tan nát” khi đáp phi cơ về từ Ba Lê. Tại phi trường quân sự Andrews, khi một ký giả hỏi ông có nghĩ là hoà bình đang ở trong tay không, ông tự chế giễu: “Câu nói đó hay. Không biết ai nói ấy nhỉ?”

  Ông rất giận tất cả người Việt. Ông nói với Haig “Chúng nó là những đống ***.” Trong một buổi điện đàm với một người bạn làm phóng viên chiều hôm đó khi cô ta năn nỉ ông đem lại hòa bình, ông trả lời “Cho đến giai đoạn này, tôi phải làm điều này cho chính tôi hoặc tôi sẽ điên. Cô biết không, khi cô họp với hai nhóm người Việt trong cùng ngày thì thà cai quản một nhà thương điên còn hơn.” Sáng hôm sau, khi ông gặp Nixon để bàn về những chọn lựa khác, ông gọi người Việt như “Những đống *** thối tha hào nhoáng. Họ làm người Nga Sô đâm ra tốt bụng.” Sau đó ông tả TT THiệu cho Nixon là “thằng chó đẻ điên rồ” và người Bắc là “một lũ khốn nạn đang chơi mình.”

  Nixon quan tâm về Kissinger không phải vì tình trạng sức khỏe tinh thần của ông ta mà vì sự ganh đua giữa họ với nhau. Nixon nhận thấy Kissinger dùng báo chí để tự bào chữa trước những phê bình về thất bại ở Ba Lê và để sửa soạn nhận phần lớn công lao nếu có một dàn xếp nào đó. Nixon cũng lo ngại Kissinger rêu rao với báo chí là ông ta đã đem hòa bình đến trong tầm tay nhưng Nixon không tiến đến hòa giải.

  Chủ đích của Nixon với Kissinger không phải là cô lập ông ta vì điều này sẽ làm người ta hiểu là đàm phán đã hoàn toàn sụp đổ và Bạch Ốc đang lộn xộn. Nixon muốn dùng Kissinger để làm công cụ cho những mục đích của ông. Ông sai Kissinger tổ chức một buổi họp báo hôm 16 tháng Mười Hai. Ông gửi Kissinger hai bức thư dài tổng cộng bẩy trang với đầy đủ chi tiết dặn dò phải nói những gì. Để giảm sự bối rối của Kissinger đã lỡ nói câu “hoà bình trong tay”, Nixon sai Kissinger khẳng định là báo chí “đã lạc quan quá lố...và không nhìn rõ những giới hạn” của vài “rắc rối cần phải được giải quyết.”

  Nixon cũng sai Kissinger nói rõ ràng là tổng thống đã định những mục tiêu cho một dàn xếp trong tầm tay, nhưng vẫn cần phải cẩn nhắc nếu chúng ta muốn có hoà bình ổn định lâu dài hơn là một hoà bình dẫn đến một chiến tranh khác. Kissinger phải giải thích là Hà Nội đang sửa soạn tiếp tục chiến tranh. Nixon muốn Kissinger nói rằng cả hai miền Bắc và Nam phải chịu trách nhiệm về thương thuyết bị đình trệ và tuyên bố ý định của Nixon “gia tăng áp lực với hai bên để có một dàn xếp nhanh chóng hơn.”

  Cuộc họp báo mở màn cho một chiến dịch dội bom vũ bão bắt đầu vào hôm 18 tháng Mười Hai. Nixon cố ý bắt đầu những cuộc không tập trong khi Quốc Hội đang nghỉ Lễ Giáng Sinh. Nếu làm trước đó, ông sẽ phải giải thích hành động của ông cho những người lãnh đạo trong Thượng và Hạ Viện và phải đối phó với sự bùng nổ chống đối. Ông nói với Kissinger “Một trong những điểm lợi làm bây giờ là chúng ta không có vấn đề phải hội kiến với Quốc Hội” và với Haig “Chúng ta cần tiến hành ngay bây giờ, nhanh, nhanh, nhanh.”

  Họ làm thật, trong mười hai ngày liên tiếp sau đó, trừ ngày Giáng Sinh, B-52 của không lực Hoa Kỳ ngày đêm trải bom khắp Hà Nội và Hải Phòng. Chủ đích là đánh gục sự quyết tâm chiến đấu của MBVN và chứng tỏ cho TT Thiệu biết là Nixon nói là làm về phản ứng của Hoa Kỳ đối với những vi phạm hiệp định hoà bình trong tương lai.

  Cuộc tấn công là tột đỉnh của không chiến dài tám năm mà Hoa Kỳ đã dùng số lượng bom trên Việt Nam nhiều hơn là họ đã dùng trên khắp các mặt trận trong Thế Chiến Thứ Hai. Kissinger nói với Nixon “100 phi vụ B-52 tương đương với 4,000 phi vụ trong Thế Chiến Thứ Hai. Nó sẽ làm vỡ tất cả cửa kính ở Hà Nội.” Và đương nhiên, còn những lời phê bình nữa như tờ Washington Post tả cuộc dội bom là “một hành động chiến tranh dã man và vô lý chưa từng có nội trong mười ngày của một cường quốc trên một quốc gia khác.” Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Mike Mansfield nói “Đó là một sách lược thời đồ đá.” Hoa Kỳ đã phải trả giá cho cuộc không tập, 15 chiếc B-52 bị bắn rơi trong cuộc dội bom mà những người chống đối mỉa mai nhái tên là dội bom Giáng Sinh, cộng với 14 chiếc khác cho đến thời điểm đó. Tuy nhiên, sự tàn phá đã buộc MBVN đồng ý trở lại bàn đàm phán vào tháng Giêng năm 1973.

  Ngược lại, dù Nixon có hy vọng, cuộc dội bom không có tác dụng gì với Sài Gòn. TT Thiệu tiếp tục không nhượng bộ trước áp lực từ Washington. Nixon muốn TT Thiệu xem một bài báo ghi lại lời nói của Barry Goldwater là “nếu Thiệu chống cự nữa thì Hoa Kỳ nên áp dụng ‘thái độ kệ nó.’” Thẳng thắn hơn nữa, Nixon sai Haig trở lại Sài Gòn với bức thư riêng mà ông yêu cầu TT Thiệu “bảo mật tối đa.” Bức thư, cùng với sự phụ họa của Haig, nói cho TT Thiệu biết là cuộc dội bom là một thông điệp cho Hà Nội là họ có thể bị ăn bom hơn thế nữa nếu vi phạm hiệp ước hòa bình. TT Thiệu cũng được khuyến cáo nên hiểu rằng sự từ chối chấm dứt chiến tranh của ông đang khuyến khích Hà Nội chống lại thỏa thuận, và không tham dự vào dàn xếp là đồng nghĩa với Hoa Kỳ dứt khoát chấm dứt giúp đỡ. Hợp tác với Washington để chấm dứt cuộc xung đột sẽ bảo đảm viện trợ quân sự Hoa Kỳ trong tương lai cho TT Thiệu.

  TT Thiệu bắn tín hiệu cho sự tiếp tục chống cự của ông đối với những đòi hỏi của Nixon bằng cách để Bunker và Haig ngồi chờ bốn tiếng trước khi họp với họ hôm 20 tháng Mười Hai và cho bức thư của Nixon là một “tối hậu thư.” Trong một bức thư trả lời mà TT Thiệu nhờ Haig đem về Washington, ông từ chối dàn xếp nếu quân MBVN không rút về Bắc và không có sự cam kết từ Hoa Kỳ chống đối vai trò của Cộng Sản trong việc cai quản MNVN.

  Kissinger góp ý với Nixon rằng bức thư của TT Thiệu đã vượt khỏi mức chịu đựng cuối cùng của Hoa Kỳ, ông nói “Chúng ta không còn chọn lựa nào khác ngoài tiến đến một thỏa hiệp song phương [với MBVN].” Trong một buổi họp với Haldeman và Kissinger, Nixon kết luận họ phải “xúc tiến một mình.” Họ đồng ý là nên tiến hành với MBVN và không cho TT Thiệu một cơ hội nào nữa. Khi Hà Nội đồng ý hoà đàm trở lại vào ngày mùng 8 tháng Giêng 1973, Bạch Ốc tuyên bố bắt đầu từ ngày 30 tháng Mười Hai, họ sẽ ngưng dội bom phía bắc vĩ tuyến thứ hai mươi, và họ đã không tham khảo với Sài Gòn.

  Haig cho đó là một lỗi lầm khủng khiếp. Ông tin rằng cơ hội duy nhất để cứu MNVN là thi hành chiến dịch dội bom không nghỉ để buộc Hà Nội rút hết quân về từ MNVN. Tuy nhiên, Nixon bảo Haig là nếu cứ tiếp tục không tập, ông ta sẽ bị Quốc Hội buộc tội. Dù sao, thật mà khó tưởng tượng là dội bom MBVN thêm nữa sẽ buộc họ phải làm điều mà họ đã chống cự trong tám năm qua.

  Tất niên đã gần kề, Nixon và Kissinger có thể ngoảnh lại để chiêm ngưỡng thành quả ngoạn mục về quan hệ cải thiện với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa, thắng cử tổng thống vẻ vang, và điều có thể xẩy ra là chiến tranh Việt Nam sẽ kết thúc sau nhiều lần hụt. Nhưng năm mới có vẻ như chồng chất với những quan tâm từ trước đến giờ: một dàn xếp hòa bình không bảo đảm quyền tự quyết của MNVN, tai tiếng âm ỷ về vụ Watergate có thể trở thành một vấn đề quan trọng, chiến tranh có thể bùng nổ ở Trung Đông ảnh hưởng đến quan hệ Mỹ-Nga, và chính phủ theo cộng sản Allende ở Chí Lợi có thể làm mất quân bình Châu Mỹ La tinh, hay là điều mà Nixon và Kissinger tin như vậy.

  
Chương Mười Hai Mục Lục Chương Mười Bốn

  

Đôi Bài Trùng Quyền Thế - Robert Dalleck