Chương Mười Hai
Chiến Sĩ Làm Người Hoà Giải

  Trong những tuần sau khi Nixon đi Trung Quốc về, sự chấp thuận lớn lao của dân chúng về thay đổi chiều hướng ngoạn mục trong quan hệ với Bắc Kinh làm dịu đi những lo âu của ông đối với phản ứng sau cuộc họp Thượng Đỉnh. Phóng viên Howard K. Smith của đài ABC phản ảnh ý kiến của dư luận và báo chí khi ông tuyên bố “Nixon đáng được hưởng tiếng khen vì cú đòn thần sầu đúng lúc và đúng cương vị của một lãnh tụ.” Nixon thổ lộ khi viết cho Charles Colson “Bảo ông ta [ký giả Smith] là Nixon khen bài bình luận của ông ta là toàn hảo.”

  Cuộc họp Thượng Đỉnh với Trung Quốc cũng làm chính Kissinger cảm thấy hãnh diện. Sự hiện diện của ông trong tất cả các buổi họp cùng với sự vắng mặt của Rogers đã đưa ông lên vị trí quan trọng như là nhân vật chính trong chính phủ cộng tác với tổng thống trong việc cách mạng hoá nền ngoại giao hoa Kỳ. Khi Kissinger tường thuật kết quả của chuyến đi cho các nhân viên Bạch Ốc, tất cả đều đứng lên và vỗ tay, ông nói đùa “Tôi không ngờ là mọi người đứng lên, nhưng tôi nghĩ tối thiểu mọi người sẽ quỳ xuống.” Bài thuyết trình của ông càng chứng tỏ ông là người có tầm hiểu biết sâu xa về những thử thách quốc tế của Hoa Kỳ. Ông nói “Những gì bắt đầu ờ Trung Quốc có thể là một khúc quanh trong lịch sử ngoại giao. Tuy nhiên, để thực hiện điều đó, chúng ta phải theo đuổi nó với sự khôn ngoan.” Ông bất đồng với “nhóm người chống đối bên tả,” những người tin rằng “chỉ có những người chống cộng cứng rắn nhất mới có thể làm chúng ta tồn tại. Chúng ta không thể chịu đựng điều này được nữa. Chúng ta đã từ bỏ độc quyền hoàn toàn …chúng ta đang ở trong vị trí mà mọi quốc gia khác đã từng trải qua trong lịch sử. Chúng ta cần phải có sự khôn ngoan và khả năng suy xét để tồn tại, và chúng ta không thể đơn thuần dựa trên ưu thế đạo đức đã có và khả năng sản xuất bao la.”

  Nhưng vấn đề Việt Nam gây khó khăn cho việc tập trung sự chú ý tích cực vào vai trò lãnh đạo của Nixon. Vào tháng Ba, với tin tình báo Hoa Kỳ tiên đoán là MBVN sẽ khởi động một cuộc tổng tấn công ồ ạt vào mùa xuân, Nixon bị ám ảnh bởi những hậu quả có thể của cuộc tấn công trong lúc tranh cử đang diễn ra. Ông lo ngại là phía Dân Chủ sẽ lấy điều này làm đề tài quan trọng trong hội nghị Đảng Dân Chủ toàn quốc vào tháng Bảy để tấn công vì ông thất bại trong việc chấm dứt cuộc chiến. Hơn nữa, ông ít tin tưởng là thương thuyết ở Ba Lê sẽ đem lại một dàn xếp trước tháng Mười Một. Ông nói với Kissinger “Còn khuya, tôi không cần biết đến những gì mình nghe từ bọn người Việt khốn khiếp đó, vả lại tôi chưa bao giờ cảm thấy bọn họ sẽ thi hành bất cứ điều gì.” Ông tin điều cần thiết là “Phải tuyên bố một điều gì cuối cùng về rút quân trước khi có hội nghị Đảng Dân Chủ toàn quốc, không thôi chúng ta sẽ ở trong tình trạng rất khốn đốn.” Ông dựa vào một thăm dò dư luận của hãng Harris cho thấy “dân chúng sẽ không nghĩ là Nixon đã chu toàn cam kết chấm dứt chiến tranh trừ khi có một hoà bình thỏa thuận giữa hai bên hay một cuộc ngưng bắn trước tháng Mười Một.”

  Ngày 30 tháng Ba, Hà Nội khai mào cuộc tổng tấn công như dự đoán. Kissinger và Haig nói với Nixon “Sau khi thất bại chiếm đoạt MNVN bằng cách gây khó khăn chính trị hoặc đưa quân lén lút, họ bây giờ khởi động một cuộc xua quân quy ước rộng lớn để xâm chiếm MNVN. Họ huy động nhiều sư đoàn để tổ chức những cuộc tấn công qua vùng phi quân sự, vượt qua biên giới Cam Bốt để tiến về Sài Gòn, và tràn qua biên giới Lào để vào Cao nguyên Trung phần.” Với 95 ngàn quân Mỹ trong số đó chỉ có chín ngàn quân sẵn sàng tác chiến còn lại ở Việt Nam, quân lực MNVN phải đảm trách tất cả các giao tranh trên trận địa và hải lực và không lực Mỹ ở trong tình trạng sẵn sàng gia nhập. Kissinger và Haig khuyên nên dùng một phản ứng mạnh nhất có thể được. Nếu không trả đũa với cái mà họ cho là một cuộc gây hấn được Nga Sô gián tiếp ủng hộ, sự tín nhiệm vào nước Mỹ sẽ bị nguy hại đến độ không thể hàn gắn được. Kissinger tin rằng “Nếu chúng ta chạy khỏi Việt Nam, toàn bộ chính sách ngoại giao của chúng ta sẽ bị nguy cơ.” Nixon tuyên bố với các nhà lãnh đạo của Đảng Dân Chủ trong Quốc Hội “Nếu cuộc tổng tấn công này thành công…các ông sẽ có một thế giới nguy hiểm hơn…Nếu nước Mỹ thất bại trong vấn đề này…không Tổng Thống nào có thể đi Moscow, trừ khi phải bò. Nếu chúng ta thất bại, chúng ta sẽ không có một chinh sách ngoại giao đáng để tin tưởng được.”

  Với báo chí miêu tả cuộc tổng tấn công như là một cú đòn “làm rối loạn”, “lao đảo”, và “chí mạng” cho Sài Gòn và một “thử lửa đầu tiên thật sự cho Chương Trình Việt Nam Hoá”, Nixon nhận thức ra là chính sách hoà hoãn và cuộc bầu cử tổng thống của ông đang bị đe dọa. Khi Kissinger giảm thiểu hiểm họa có thể xảy ra bằng cách tuyên bố “Chúng ta đã làm bất cứ gì chúng ta đã có thể làm.” Nixon gắt “Đừng có ý tưởng đó. Nếu QLVNCH xụp đổ thì sẽ có nhiều thứ khác sẽ xụp đổ theo ở quanh đây… Chúng ta đang chơi trò với Nga Sô, Trung Quốc, và bầu cử.” Kissinger trả lời “Đó là lý do mà chúng ta phải đập thấy mẹ bọn MBVN.” Kissinger gửi điện tín báo cho Đại sứ Bunker ở Sài Gòn biết là Nixon không muốn để cho MNVN thua và ra lệnh quân lực Mỹ ở Sài Gòn bảo đảm điều này. Nixon bảo Kissinger một cách tượng hình “Chúng ta sẽ không để quốc gia này bị một nước ỉa đùn tí hon đó đánh bại.” Cùng lúc đó, Nixon sai Haldeman đi bêu riếu những người thuộc Đảng Dân Chủ là những người chủ bại.

  Vấn đề chính ở đây là Nixon muốn được tái cử chứ không phải hoà bình thế giới. Nixon và Kissinger cùng đồng ý là họ không muốn để MNVN “tan rã trước tháng Mười Một,” Nixon tin rằng sự xụp đổ của MNVN sẽ làm Chương Trình Việt Nam Hoá trở thành một điều dối trá và mang tiếng xấu cho chiến lược hòa hoãn của ông như là chiều chuộng Trung Quốc và Nga Sô. Lúc đó ông nghĩ rằng bên hữu sẽ từ bỏ ông vì nhu nhược và bên tả sẽ chối bỏ vì ông đã hy sinh thêm xương máu và của cải Mỹ để theo đuổi một lý tưởng đã mất.

  Hầu như đang tuyệt vọng để cứu MNVN khỏi rơi vào tay Việt Cộng, Nixon trưng dụng tất cả những hải và không lực mà ông có thể góp nhặt được vào cuộc chiến, ngay cả B-52, pháo đài bay mà ông định dùng để dội bom MBVN khi thời tiết cho phép. Tuy nhiên, cũng có những giới hạn cho những điều ông có thể làm mà không khởi động những cuộc biểu tình chống chiến tranh mới. Ông đang đi trên con đường mong manh giữa đánh nhau với Hà Nội và khuấy động nổi loạn trong nước mà nó có thể làm ông mất thế trong cuộc tranh đua chính trị. Ông tự an ủi với hy vọng là cuộc tổng tấn công của MBVN là hậu quả của lòng mong muốn làm Chương Trình Việt Nam Hoá thất bại hơn là sự phô trương sức mạnh và một cuộc phản công của Mỹ sẽ buộc Hà Nội chấm dứt chiến tranh. Kissinger đồng ý, ông cũng hy vọng là vì MBVN đã tận dụng tất cả sức lực cho cuộc tổng công kích, nếu thua, họ sẽ buộc phải thương thuyết.

  Thật dễ hiểu khi Nixon và Kissinger không thể chấp nhận sự sụp đổ của MNVN trong năm 1972. Hầu như chắc chắn là nó sẽ đem đến sự thất cử của Nixon và làm cả quốc gia nản lòng hơn vì họ đã mất hơn 50 ngàn quân cho cuộc chiến, trong đó hơn 20 ngàn dưới nhiệm kỳ Nixon. Tuy nhiên, ý tưởng là sự sụp đổ này sẽ là một cú thất bại quan trọng cho nước Mỹ trong chiến tranh lạnh là một điều phóng đại ghê tởm. Cả Moscow lẫn Bắc Kinh không nghĩ là chiến thắng của MBVN sẽ đem lại một lợi thế lớn lao nào cho họ để làm nhục nước Mỹ. Ngược lại, họ mong thấy một kết cục nhanh chóng cho cuộc xung đột qua một thoả thuận giữa hai bên để chiến tranh không còn là một vấn đề giữa họ và Washington. Nói đúng ra, cả hai đã cung cấp cho Hà Nội tất cả những gì để đánh nhau, nhưng đó là một phần của sự tranh đua giữa hai nước về vai trò lãnh đạo chủ nghĩa cộng sản quốc tế cùng với sự quyết chí đi đến chiến thắng của xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á.

  Nixon và Kissinger bây giờ đang vất vả làm sao đối phó với Xô Viết. Cả hai đều đồng ý là Moscow có ảnh hưởng trên tư cách và hành động của Hà Nội, nhưng giữa hai người, Nixon muốn dọa Moscow bằng mối quan hệ gần đổ vỡ giữa Xô Viết – Hoa Kỳ hơn là Kissinger. Nixon ghi trong nhật ký “Kissinger, với tất cả những đức tính, nhiều khi có vẻ quan tâm về sửa soạn đường lối để thương thuyết với Xô Viết. Tuy nhiên, khi đối diện với những dữ kiện thực tế, ông ta lại nhận ra là không thể thương thuyết được với Moscow trừ khi chúng ta giải quyết êm thắm vụ Việt Nam.”

  Tuy với những lời lẽ cứng rắn của Nixon và sự ngần ngại nghe theo của Kissinger, cả hai đều nhận thấy hội nghị Thượng Đỉnh với Moscow là điều cần thiết cho những chương trình quan trọng hơn của họ và họ nóng lòng bảo tồn nó. Thật ra, khi hội đàm với Dobrynin vào những ngày 3, 6, và 9 tháng Tư, Kissinger nói toạc móng heo là ông tin là Moscow có phần trách nhiệm về cuộc tổng công kích của Hà Nội. Nhưng Dobrynin chống đỡ những than phiền của Kissinger bằng những lời trấn an dịu dàng là Moscow đã không bắt Hà Nội hành động như vậy, ông thấy không có lý do nào để hai chính phủ cãi nhau về Việt Nam, và tiên đoán là Mỹ và MNVN sẽ không thua trận.

  Mặc dù Nixon mong muốn, đặc điểm của những cuộc bàn luận giữa Kissinger với Dobrynin vào đầu tháng Tư không phải là lập đi lập lại những nguy hiểm cho quan hệ Xô Viết–Hoa Kỳ gây ra bởi cuộc tổng tấn công của MBVN. Ngược lại, họ bàn đến phạm vi để hai bên tiếp tục tìm căn bản chung cho hội nghị Thượng Đỉnh và quan hệ được cải thiện. Họ chú trọng về Việt Nam ít hơn là về Thỏa Uớc Giới Hạn Vũ Khí Chiến Lược, Trung Đông, và những vấn đề song phương khác.

  Dobrynin đáp lại lòng tốt này. Trong buổi họp hôm mùng 9 tháng Tư, ông dám chắc với Kissinger là Moscow đã khuyến khích Hà Nội trở lại hoà đàm ở Ba Lê vào ngày 24 tháng Tư năm 1972. Trong một cuộc đàm thoại hôm 12 tháng Tư, Dobrynin thúc dục Kissinger làm một chuyến đi Moscow trước để tiến hành việc sửa soạn cho cuộc họp Thượng Đỉnh và để bàn luận về vấn đề Việt Nam với Brezhnev và Kosygin. Hôm trước đó Brezhnev đã gặp Bộ Trưởng Canh Nông Hoa Kỳ Earl Butt ở Điện Kremlin, tờ Pravda đăng trên trang đầu “Lần đầu tiên từ năm 1963 Brezhnev tiếp một viên chức chính phủ Hoa Kỳ.” Kissinger tin tưởng đây là dấu hiệu Xô Viết muốn duy trì quan hệ với Mỹ “một cách đều đặn.” Brezhnev hứa một “lễ chào mừng lớn” cho tổng thống Hoa Kỳ ờ Moscow và đoán là cả hai bên sẽ thấy nhiều điểm tương đồng. Hôm 15 tháng Tư, Hà Nội hủy bỏ cuộc họp ngày 24 để phản đối Mỹ không tập MBVN. Nixon muốn Kissinger xét lại chuyến đi Moscow trước khi họp Thượng Đỉnh để đánh tiếng là Hà Nội đang phá cuộc họp. Nhưng ông lại ngần ngại để chuyện Việt Nam phá hỏng chuyến đi Moscow của ông; nhưng nó hầu như chắc chắn làm nguy hại đến cơ hội của ông vào tháng Mười Một. Nixon nói với Kissinger là đáng lẽ ông không nên ra tranh cử và tưởng tượng ai sẽ là người nên thay thế. Theo lời Nixon, “Kissinger vung hai cánh tay lên và nói không ai cả, và những người thuộc đảng Dân Chủ lại càng không nữa…sau đó Kissinger trở nên rất tình cảm,” Kissinger nói thêm “Tôi không nên nghĩ hay nói điều này với ai…không thể cho phép để MBVN làm thân bại danh liệt hai đời tổng thống.”

  Chiều hôm 15 tháng Tư, sau khi bàn thêm với Kissinger, Nixon đồng ý để ông ta đi Moscow vào ngày 20 tháng Tư. Họ cảm thấy được thuyết phục là cuộc tổng phản công của Mỹ, bao gồm không tập trên Hà Nội và Hải Phòng đang cứu Sài Gòn khỏi bị thua và có thể buộc Hà Nội vào một thỏa thuận. Sự thông cảm của dân chúng dành cho biện pháp phản ứng của ông cũng làm ông hứng khởi. Hiện nay ông định đi Moscow vào tháng Năm sau khi đã chứng tỏ rằng nước Mỹ không thể nào bị đánh bại và Xô Viết và cả thế giới sẽ phải nhìn ông như là một tổng thống không nhượng bộ kẻ thù hay bỏ đồng minh.

  Nixon tin rằng những buổi họp ở Moscow sẽ cải thiện rất nhiều cơ hội thắng cử vào tháng Mười Một. Một cuộc họp thành công sẽ đưa hoà hoãn giữa Xô Viết và Hoa Kỳ lên trên cả gặt hái trước ở Bắc Kinh và sự kết thúc chiến tranh có thể xảy ra sẽ tạo cho ông một cơ hội rất lớn để thắng cử. Kissinger cũng muốn đi họp Thượng Đỉnh vì danh tiếng của một chính khách quốc gia tài ba của ông sẽ nổi như cồn. Nixon thổ lộ trong nhật ký “Kissinger thèm đi Moscow không bằng cách này cũng bằng cách khác.” Kissinger cũng công nhận “Ở chốn cửa quan cửa quyền, lòng tự kiêu không thể được hoàn toàn tách rời với cảm nghĩ là việc làm có lợi ích cho việc nước. Dĩ nhiên tiếng tăm ảnh hưởng đến sự thèm muốn đi của tôi.”

  Nixon tin rằng điểm quan trọng khi giao thiệp với Brezhnev là phải buộc ông ta giúp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Đó là cái giá mà Nixon đặt ra cho Moscow để đổi lấy hoà hoãn, nhất là một liên minh ngấm ngầm chống lại tham vọng của Trung Cộng, giảm thiểu ngân sách vũ khí, và giao thương nhiều hơn để giúp gia tăng những món hàng tiêu dùng.

  Nixon nhắn nhủ cho Kissinger phải xem Brezhnev như là một người “đơn giản, trực tính, thật thà, nhưng ác độc.” Ông đoán rằng Xô Viết sẽ không muốn nói về Việt Nam nhưng sẽ bàn về họp Thượng Đỉnh và những thỏa thuận hai bên có thể đi đến về kiểm soát vũ khí và thương mại.” Nixon giải thích “Mục đích duy nhất của mình khi đàm phán với ông ta là để có hành động ở Việt Nam,” Kissinger cần “cứng như bàn thạch và đòi hỏi nói về Việt Nam.” Kissinger hứa sẽ làm theo lời dặn của Nixon.

  Khi Kissinger đến Moscow, ông được vội vã đưa lên một chiếc xe du lịch đi qua những con đường vắng vẻ để đến một căn nhà tiện nghi dành cho khách khứa ở trung tâm thành phố nhìn ra sông Moscow. Chỗ ở làm ông nhớ lại Bắc Kinh, điều khác biệt là ở Moscow ông bị biệt lập bởi bốn bức tường. Gromyko gặp ông vào tối ban đầu và tạo ra một bầu không khí “bận rộn” với những dấu hiệu mong muốn không ngớt để họp Thượng Đỉnh và sẵn sàng dàn xếp mọi vấn đề. Brezhnev sẽ là người chủ chốt cho tất cả các bàn luận và “Gromyko nói họ có vài ý nghĩ cụ thể về Việt Nam.”

  Kissinger bây giờ bị kẹt giữa cái nhất quyết cứng đầu của Nixon để moi ra những hứa hẹn chấm dứt chiến tranh từ Xô Viết và sự khẳng định của Brezhnev về giới hạn của ảnh hưởng Xô Viết [trên MBVN]. Nixon cũng lo ngại là Xô Viết sẽ “nịnh bợ” Kissinger và ông ta cần phải thận trọng với “những lời tâng bốc mà họ là sư tổ.” Nixon nghĩ là Xô Viết dụ ông ta sang họp Thượng Đỉnh bằng những nhượng bộ ảo về giới hạn vũ khí.

  Nixon đánh điện bảo Kissinger ở Moscow đừng nên nhận bất cứ dàn xếp nào mà nó làm những người bảo thủ khó chịu vì họ đã không thích chuyến đi Trung Cộng của ông rồi. Thật vậy, ông sợ rằng lời loan báo Kissinger đã đi Moscow sẽ bị xem như là dấu hiệu yếu đuối, nhất là sau khi Mỹ ngưng đánh bom MBVN.

  Hôm 21 tháng Tư, Kissinger điện về một bản tóm tắt của cuộc họp đầu tiên với Brezhnev dài bốn tiếng rưỡi. Ông tường trình “Những lời tuyên bố sẵn sàng họp Thượng Đỉnh trong bất cứ hoàn cảnh nào đôi khi trở nên hầu như quá lố…Brezhnev rất cứng cỏi, vô cùng lo toan, thật xuề xòa, rất thông minh nhưng không thuộc về hạng lãnh đạo khác chúng ta đã gặp [như Mao và Chu].” Brezhnev cứ đòi Kissinger xác nhận là hai chính phủ mong muốn có cuộc họp Thượng Đỉnh Nga-Mỹ.” Ông ta cho cuộc họp “vô cùng quan trọng, ngoài tính chất lịch sử, nó còn tạo nên thời thế.”

  Kissinger tường trình “Bốn phần năm của buổi họp là về Việt Nam. Tôi chỉ nói sơ về cuộc họp Thượng Đỉnh để làm Brezhnev thèm thêm nhưng không có gì cụ thể và tôi từ chối bàn luận về những chi tiết chính.” Brezhnev sẵn sàng dàn xếp một buổi họp ở Ba Lê nữa giữa Kissinger và MBVN nhưng “ông ta không chắc sẽ giúp được gì về nội dung của buổi họp đó.” Kissinger xin Nixon tiếp tục họp cho đến hôm thứ Hai, 24 tháng Tư, thay vì phải chấm dứt vào hôm Chủ Nhật như Nixon đã ra lệnh.

  Khi Haig đọc bản điện tín của Kissinger cho Nixon nghe qua điện thoại, Nixon nổi đóa. Ông cho những lời phê bình của Brezhnev về họp Thượng Đỉnh là “những lời giả dối vô nghĩa…Mình phải làm Kissinger cứng lên.” Ông nói cho Haig “Tất cả đều là ba sạo…thứ rác rưởi.” Ông ta nhất định dội bom MBVN thêm vào hôm Chủ Nhật và muốn Kissinger đi về, không cần biết những gì xảy ra. Ông nói “Kissinger nên hiểu là Brezhnev đang chơi trò bệnh hoạn. Hắn bị dụ rồi. Mình phải làm hắn cứng cỏi lên vì hắn thích tà tà nói chuyện triết lý sách vở…Hắn dễ bị dụ bởi những lời đường mật.” Haig nói với Nixon “Kissinger nghĩ là đối với ông, họp Thượng Đỉnh quan trọng hơn Việt Nam.” Nixon trả lời “Không phải. Chúng ta phải bỏ họp Thượng Đỉnh để lấy một dàn xếp ở Việt Nam…Việt Nam quan trọng gấp mười lần họp Thượng Đỉnh…Bảo Kissinger là tôi ra lệnh không được bàn luận gì về họp Thượng Đỉnh trước khi họ dàn xếp chuyện Việt Nam!”

  Trục trặc về thông tin kém giữa Moscow và Washington và múi giờ khác biệt không cho phép điện tín theo kịp với hội đàm hằng ngày làm cho sự cọ sát giữa Nixon và Kissinger càng gia tăng. Để đáp lại lời cảnh cáo từ Nixon vì đã không chú ý hoàn toàn vào vấn đề Việt Nam, Kissinger thách thức quyết định của tổng thống một cách bất thường. Ông điện cho Haig hôm 22 tháng Tư “Tôi rất ngạc nhiên vì lời văn cũng như nội dung của những điện tín của Tổng thống. Những bài giảng về cách chúng tôi nên hành động ra sao là hoàn toàn không thích hợp. Chúng tôi cần sự ủng trợ chứ không phải lúc nào cũng giới hạn…Nếu Tổng thống không tin vào tôi thì tôi chẳng còn gì để làm.” Rồi Kissinger cắt nghĩa chiến lược của ông: “Brezhnev muốn họp Thượng Đỉnh gần như bằng mọi giá. Thật ra, ông đã nói với tôi là ông ta sẽ không hủy bỏ nó trong bất cứ trường hợp nào. Ông ta thề là không biết một tí gì về cuộc tổng công kích. Ông ta cũng nói với tôi là ông không gia tăng trao hàng viện trợ [cho MBVN]. Dù không chính xác, điều này cho chúng ta ba cơ hội: (A) Chúng ta có sự giúp đỡ để giảm hiểu hay chấm dứt chiến tranh. (B) Nếu không, hầu như chắc chắn chúng ta có thể có sự thỏa thuận của Brezhnev để sử dụng hoạt động quân sự đến mức tối đa. (C) Chúng ta có thể dùng họp Thượng Đỉnh để kiểm soát cái ồn ào trong nước Mỹ… Phật lòng vì cái gì?” Kissinger hỏi mỉa mai và nói tiếp “Đâu có ai gợi ý là những lời nói của tôi có cơ hội đem lại chấm dứt dội bom!”

  Kissinger biết điều hơn Nixon về việc làm tiến triển những điểm lợi của Mỹ trong tình trạng đối phó với Moscow hiện nay. Bức điện tín của ông một phần có mục đích giải tỏa mối lo âu của Nixon là họ sẽ bị lôi cuốn vào bên phía Xô Viết để bị mất hòa hoãn và cơ hội trúng cử của Nixon. Trong khi đó, Nixon sợ Brezhnev hủy bỏ họp Thượng Đỉnh trong năm 1972 giống như Khrushchev đã từng gây chới với cho Eisenhower khi ông ta hủy họp Thượng Đỉnh ở Ba Lê năm 1960. Nixon tin rằng điều này sẽ có nguy hại đến sự tái trúng cử của ông và nghĩ là điều tốt nhất là phải đánh phủ đầu Brezhnev. Kissinger cố gắng thuyết phục Nixon là không những Brezhnev sẽ không hủy mà cuộc họp sẽ còn gây cảm tình với cử tri sau này.

  Kissinger cũng khuyên Nixon nên hiểu là Moscow không thể kiểm soát Hà Nội nhưng họ có thể được thuyết phục để giúp Mỹ về vấn đề Việt Nam. Kissinger viết lại sau này “Không những cuộc họp Thượng Đỉnh mà còn hầu hết cả thoả thuận giới hạn vũ khí chiến lược được xem như làm con tin cho Việt Nam. Nếu chúng ta buông thả cả hai thì rối loạn trong nước từ báo chí, trí thức, và Quốc Hội có thể sẽ không kiểm soát được.”

  Theo sự hiểu biết của Kissinger, Nixon “rất mơ hồ” về phương cách tiến hành với Xô viết. Nixon hài lòng là phản ứng mạnh bạo của ông đối với cuộc tổng công kích của Hà Nội đã làm tiếng tăm của ông gia tăng trong nước, nhưng ông không khỏi nghĩ đến điều là tiếp tục dội bom MBVN sẽ khiêu khích Brezhnev đi đến hủy cuộc họp. Nixon đã nghĩ một cách sai lầm là Xô Viết cũng liên quan vào Việt Nam nhiều như ông. Ông tin Brezhnev nói dối về trợ giúp của Xô Viết cho MBVN và Brezhnev có rất nhiều quyền lực trên Hà Nội hơn là ông ta công nhận. Nixon than phiền với Haig là Kissinger đang “mớm sữa” cho Xô Viết và họ đang cố gắng ép Mỹ “làm thinh” mọi việc ở Việt Nam để trả cho cái giá họp Thượng Đỉnh. Haig điện cho Kissinger hôm 22 tháng Tư “Tổng thống vẫn giữ lập trường rất mạnh về vấn đề Việt Nam và về thái độ của ông đối với Xô Viết. Tôi điện để cho ông biết rõ tình hình ở đây chứ không phải hạch sách ông hay làm công việc của ông càng khó khăn hơn.”

  Một bức điện thư khác cùng ngày từ Haig làm sáng tỏ sự cương quyết của Nixon ép buộc Moscow làm một cái gì đó về Việt Nam mà không cần biết hậu quả ra sao cho cuộc họp Thượng Đỉnh. Haig khuyên Kissinger nên hiểu rằng “Liên Xô sẽ không giúp [Mỹ] về Việt Nam” và họ đang âm mưu với Hà Nội tìm cách chiếm đoạt Sài Gòn. Haig cũng nói “Như ông đã thấy trước đó, tình trạng ở đây hầu như cũng khó khăn như tình trạng bên đó.”

  Vì tin rằng con đường khôn ngoan nhất là tiến hành cuộc họp Thượng Đỉnh, Kissinger kín đáo “chửi bới ‘sự ngu xuẩn’ của Nixon.” Trong hai điện thư hôm 23 tháng Tư, ông viết cho Nixon rằng nếu ông ta cứ có “thái độ” như vậy thì “thà đừng chấp thuận để Kissinger đi Moscow.” Kissinger còn viết thêm “Tôi đọc tin nhắn của ông với cả sự ngạc nhiên càng gia tăng. Tôi không thể hiểu cách nghĩ của Washington. Tôi không nghĩ là Moscow toa rập trực tiếp với Hà Nội.”

  Kissinger nhấn mạnh rằng Việt Nam là một chướng ngại vật cho lòng mong muốn hoà hoãn của Moscow. Kissinger than vãn “Họ được cái chó gì sau những vụ này? Họ gặp tôi ba ngày sau khi chúng ta dội bom Hà Nội. Sự đồng ý của họ về việc công bố chuyến đi của tôi làm Hà Nội tức giận và nản chí. Họ muốn hội kiến với Tổng Thống Nixon khi ông ta không kích MBVN.” Kissinger khuyên Haig nên giữ mọi người bình tĩnh. Chúng ta đang tiến đến kết quả thành công của chính sách chúng ta.

  Nixon nhượng bộ hầu như tất cả cho Kissinger vì lo ngại Kissinger có thể từ chức vì giận dỗi, điều này có thể tạo một cú đòn chính trị thất bại cho ông, và vì ông hứng khởi với triển vọng của một cuộc họp Thượng Đỉnh thành công nữa mà nó có thể làm tiến triển ổn định quốc tế và cuộc tranh cử của ông. Nixon điện cho Kissinger “[Tôi] không hề bất tín nhiệm về sự cứng rắn, tài thương thuyết, và khả năng phán xét của ông để đánh giá những hội đàm mà ông đang thi hành.” Nixon đồng ý để Kissinger ở lại Moscow cho đến chiều hôm thứ Hai nếu điều đó “đóng góp cái gì cho vấn đề Việt Nam.”

  Tuy thế, trong khi Nixon trở nên biết điều hơn về giá trị của cuộc gặp gỡ Thượng Đỉnh, ông ta tiếp tục nghi ngờ không biết chuyến đi của Kissinger có bõ không khi chẳng có dấu hiệu cụ thể về tiến triển chấm dứt chiến tranh. Ông đồng ý là chuyến đi đó đánh tiếng cho Hà Nội và mở đường cho sự giúp đỡ của Liên Xô về vấn đề Việt Nam trong tương lai. Nhưng ông cũng trông đợi “một ban đồng ca chỉ trích đang lên từ đối thủ chính trị bên tả và từ những người bạn hiếu chiến bên hữu vì chuyện đi Moscow và vì không có tiến triển trên vấn đề chính.” Hơn nữa, Nixon nghĩ rằng Thoả Hiệp Giới Hạn Vũ Khí Chiến Lược sẽ làm Kissinger gáy to hơn ông mặc dù điều đó “chẳng có ý nghĩa gì so với người Mỹ trung bình.” Tuy nhiên, ông đồng ý là cuộc họp Thượng Đỉnh với Liên Xô “vô cùng quan trọng” cho quyền lợi về lâu về dài của Mỹ và sẽ “có lợi hơn họp Thượng Đỉnh với Trung Cộng rất nhiều.”

  Kissinger phản đối cách ước định của nixon trên giá trị chuyến đi Moscow của ông. Kissinger đánh điện cho Haig khi ông sửa soạn bay về hôm 24 tháng Tư “Tôi hoàn toàn tin tưởng là nếu không có chuyến đi Moscow của tôi, cuộc họp Thượng Đỉnh sẽ đổ vỡ và cái cán quân chính sách Việt Nam mỏng manh của chúng ta sẽ tan tành đến độ không thể hàn gắn được.” Kissinger cho rằng vì “áp lực Liên Xô” mà Hà Nội chấp nhận họp kín lại ở Ba Lê vào hôm mùng 2 tháng Năm. Ông cũng thấy dấu hiệu rục rịch của Liên Xô về vấn đề Việt Nam khi biết tin là một phụ tá chính của Brezhnev đang trên đường đi Hà Nội.

  Khi Kissinger về đến nơi, ông đi thẳng đến Trại David, tại đó ông và Nixon trải qua một buổi họp căng thẳng. Haldeman tường trình “Tổng Thống sẵn sàng cho Kissinger một trận nhưng ông bỏ qua khi Kissinger đến. Đương nhiên Kissinger trông rất căng. Ông ta rất khó chịu khi bị phá đám và làm giảm uy quyền. Ông ta lạnh lùng chào tôi nhưng Tổng Thống nhanh chóng phá tan bầu không khí đó khi cuộc họp bắt đầu. Chúng tôi kết thúc với tinh thần cởi mở. Nixon chịu khó ngồi yên vì không muốn có một cuộc chạm trán trực tiếp nào mà nó có thể cô lập Kissinger, người đã trung thành phục vụ ông nhưng có thể gây ra những tai hại to lớn cho ông nếu bị dồn vào con đường từ chức.

  Nhưng sự khác biệt cùa họ, nhất là về cách thức làm sao đối phó với vấn đề Việt Nam, tiếp tục gây căng thẳng giữa hai người. Như Haig diễn tả cho Kissinger, Nixon “rất lấy làm khó chịu” về quyết định đàm phán Ba Lê trở lại. Ông nghĩ rằng lời tuyên bố về cuộc viếng thăm Moscow của Kissinger sẽ gây cảm tưởng là Washington ngồi lại vào bàn thương thuyết dưới áp lực của Liên Xô, giống như để trả nợ một phần sau khi họ đồng ý họp Thượng Đỉnh.

  Kissinger cố gắng làm dịu sự chống đối của Nixon bằng cách trấn an rằng nếu những cuộc đàm phán trở lại ở Ba Lê, gồm họp toàn bộ hôm 27 tháng Tư và chuyến viếng thăm bí mật hôm mùng 2 tháng Năm không “tiến triển quan trọng, chúng ta sẽ làm một cuộc oanh tạc lớn ở Hải Phòng.” Ông cũng bảo đảm với Nixon rằng dư luận Hoa Kỳ xem sự thảo luận trở lại với Hà Nội như là một dấu hiệu tiến triển chứ không phải là nhu nhược. Khi Brezhnev trả lời một bức thư của Nixon về chuyến viếng thăm Moscow gần đây của Kissinger bằng cách tuyên bố “Chúng tôi không thể bảo đảm một trăm phần trăm là mọi việc sẽ trôi chảy như ý muốn” về Việt Nam và khuyến cáo Mỹ nên giới hạn những hành động quân sự, lời tuyên bố này làm Nixon càng tin tưởng hơn là Moscow và Hà Nội đang âm mưu lật đổ Sài Gòn.

  Hôm 26 tháng Tư, Nixon tường trình cho cả nước về tình hình hiện nay ở Việt Nam. Bài diễn văn cho thấy Nixon lo âu về ảnh hưởng của Việt Nam trên cuộc bầu cử tổng thống hơn là những chương trình về hòa bình. Ông khởi đầu bằng một bài phân tích về những gì ông đã đề cập đến về Chương Trình Việt Nam Hoá như là con đường đi đến hòa bình trong danh dự. Ông khẳng định là sự hữu hiệu của Sài Gòn trong những trận giao tranh gần đây đã chứng tỏ chính sách thành công và cho phép ông rút hai mươi ngàn quân nữa. Ông tuyên bố hoà đàm Ba Lê sẽ bắt đầu trở lại hôm 27 tháng Tư, ông đồng ý họp lại vì sự chống trả xâm lăng hiệu nghiệm của Sài Gòn, hay là điều mà ông ta muốn dân chúng Hoa Kỳ tin tưởng.

  Ông kết luận bằng cách cảnh cáo đừng để Việt Nam chia rẽ nội bộ nước Mỹ. Ông nói nước Mỹ chỉ có thể bị đánh bại nếu người Mỹ không sát cánh với nhau. Nguy cơ ở đây không chỉ là sự tự do của MNVN mà còn là vai trò lãnh đạo quốc tế của Hoa Kỳ và hoà bình tương lai của cả thế giới. Thông điệp ngầm ở đây là sự thành công hay thất bại của chính sách ngoại giao của Nixon và tái trúng cử của ông tùy thuộc vào kết quả ở Việt Nam. Cuộc chiến này đã trở nên quan trọng đối với Nixon về cả chính sách quốc nội lẫn ngoại giao mà chúng không liên quan gì nhiều đến thực tại.

  Vào cuối tháng Tư, Hà Nội khởi xướng những cuộc tấn công vào thị trấn ở các tỉnh như màn giáo đầu cho buổi họp giữa Kissinger và Lê đức Thọ hôm mùng 2 tháng Năm. Với vận mạng của MNVN một lần nữa đang bấp bênh, Nixon tự hỏi Kissinger có nên hủy chuyến đi Ba Lê của ông không. Ông bảo Kissinger hôm 29 tháng Tư “Tôi đã quyết định hủy cuộc họp Thượng Đỉnh trừ khi chúng ta có một dàn xếp. Chúng ta không thể cụp đuôi đi gặp người Liên Xô.” Kissinger đồng ý. “Chúng ta không thể đi nếu chúng ta hoàn toàn bị thụ động trong vòng tay chào đón Liên Xô.” Vì lại lo lắng về phản ứng có thể trong nước và những gì nó mang lại cho cương vị chính trị của ông, Nixon viện cớ “hình ảnh chúng ta ôm người Nga trong lúc khí giới của họ đang được dùng để tàn phá Việt Nam.”

  Kissinger nói “Như thông lệ, đó là phần của nhiệm vụ của phụ tá - điều mà Nixon mong đợi - để lọc bỏ những quyết định mà Tổng Thống không có ý định bắt thi hành.” Sự thất vọng của Nixon là điều dễ hiểu, nhưng những lời nói thường xuyên bốc đồng, dù không có ý gì khác hơn, tạo ra những nghi vấn quan trọng về sự bình tĩnh khôn ngoan của ông trong tình huống khủng hoảng và căng thẳng. Nếu Kissinger cứ nghe y lời Nixon và báo cho Dobrynin là những cuộc tấn công của Hà Nội đã giết chết cơ hội họp Thượng Đỉnh, thì những gì sẽ xẩy ra?

  Những chuyện xẩy ra trước buổi họp mùng 2 tháng Năm của Kissinger đã làm gia tăng sự va chạm giữa ông và Nixon. Tại buổi họp toàn bộ ở Ba Lê hôm 27 tháng Tư, MBVN không chịu nhượng bộ áp lực từ Hoa Kỳ để chấm dứt xâm lăng MNVN vào lúc đó. Hôm 30 tháng Tư, khi Lê đức Thọ sang Ba Lê để họp với Kissinger, Thọ khăng khăng đòi Mỹ phải thoả mãn yêu sách của Hà Nội. Kissinger kể cho Nixon “Câu phát biểu vô cùng độc ác và cứng rắn có thể phản ảnh sự tin tưởng của Hà Nội” là Mỹ đang ở trong cương vị thương thuyết yếu kém.

  Mặc dù Nixon ngần ngại để Kissinger trở lại Ba Lê, ông đặt ra những điều lệ khó khăn mới. Ông bảo Kissinger phải trông chừng những đòn phép của MBVN gài bẫy Mỹ để trì hoãn và làm cho chính phủ Mỹ mất “cơ hội tốt nhất chưa từng có để cho họ một đòn chí tử…Ông chỉ có một thông điệp duy nhất cho họ - dàn xếp hay không!”

  Nixon muốn Haig nhấn mạnh ý của ông với Kissinger. Hôm mùng 1 tháng Năm, ông bảo Haig là Kissinger đã sai lầm khi đoán MBVN sẽ giảm thiểu tấn công và khuyến cáo ông không nên tăng cường oanh tạc những vùng bị tấn công. Ông cũng than phiền với Haig là Kissinger “quá nóng lòng về hòa đàm…và không nhận thức ra điều làm hại mình nhất là tỏ vẻ như những con cũn khi họ khởi xướng tấn công. Điều thật sự làm họ sợ là phải dội bom Hà Nội và Hải Phòng…Ông phải nói cho Kissinger biết là mình phải gia tăng những giai đoạn này và quên mẹ thương thuyết đi, và Kissinger nên nghĩ lại là có đi Ba Lê hay không!”

  Với quân đội MNVN đánh nhau kém đi trong những trận chiến gần đây nhất, Nixon trở nên càng sốt ruột với điều có thể xẩy ra là Sài gòn sẽ thua và những hậu quả cho cuộc tái cử của ông. Ông bảo Kissinger nếu MBVN “nghĩ họ đang bóp dái MNVN, họ sẽ cứng như đá và bảo chúng ta xéo đi chỗ khác. Đó là lý do tại sao mình sẽ phải dội bom Hà Nội và Hải Phòng.”

  Theo lệnh của Nixon, Haig gửi Kissinger một bức thư tóm lược những chọn lựa kinh khủng khác như “Chúng ta có nên…dẹp họp Thượng Đỉnh, báo động tất cả quân lực Hoa Kỳ gồm cả lực lượng chiến lược…động viên lực lượng trừ bị, thành lập một cánh thủy quân lục chiến để đổ bộ…chiếm hải cảng Hải Phòng và Thủ Đô MBVN để giải thoát tù nhân Mỹ và bắt giới lãnh đạo ở Hà Nội? Chúng ta có nên bắt đầu soạn thảo bài diễn văn cho Tổng Thống để giải thích phản ứng toàn diện của Mỹ?”

  Vì biết những hậu quả giới hạn của những cuộc không tập trên MBVN trước đó và sự bùng nổ chống đối từ dân chúng có thể xảy ra theo sau bất cứ hành động nào của Haig đề cử, Kissinger thuyết phục Nixon để ông đi Ba Lê với cơ hội may ra MBVN bị tổn thương hơn MNVN và đang mồm loa mép giải trước khi dàn xếp. Nixon và Kissinger cảm thấy yên tâm với niềm tin là, không bằng cách này cũng bằng cách khác “vào tháng Tám, giao tranh sẽ chấm dứt vì hoặc mình đánh bại chúng hoặc chúng đánh bại mình.”

  Trước khi Kissinger lên máy bay đi Ba Lê, Nixon dặn dò “làm bộ đóng kịch một chút vì những người này, giống như bọn Nga, là những người nói láo và thích đóng kịch.” Nếu là tôi thì tôi sẽ chỉ nói…”Như các ông đã biết, tôi quan tâm sâu xa đến hòa binh và tôi đã có thể thuyết phục Tổng Thống đi về hướng đó, nhưng tôi phải nói với các ông là tôi không thể kiểm xoát được Tổng Thống…Và các ông chưa bao giờ biết rõ ông ta để hiểu ông ta sẽ làm gì. Ông ta có hậu thuẫn từ dân chúng.” Nixon hy vọng là một liều thuốc “người điên” sẽ kềm chế được MBVN.

  Đó là một hy vọng không thiết thực. MBVN chưa sẵn sàng nhượng bộ điều gì dưới dọa dẫm và chiến tranh sẽ không chấm dứt vào cuối hè. Buổi họp ở Ba Lê bắt đầu bằng mối hy vọng của Hà Nội là họ đang mấp mé thắng trận và MNVN dường như ở trong tình trạng sụp đổ. Do đó, buổi họp dài ba tiếng giữa Kissinger với Lê đức Thọ và Xuân Thủy đã không mang đến kết quả gì ngoài hận thù. Nixon ra lệnh cho phái đoàn Mỹ ngưng mọi đàm thoại sau buổi họp hôm mùng 5 tháng Năm trừ khi có một dấu hiệu nhân nhượng nào từ Hà Nội.

  Nixon và Kissinger đang ở trong cái bẫy mà phần nào họ đã tự tạo ra. Nếu họ đã chấm dứt vai trò của Mỹ trong cuộc xung đột với lời tuyên bố là Sài Gòn có khả năng và phương tiện để tồn tại thì họ đã không phải đối phó với tình trạng khó xử là làm sao cứu Việt Nam mà không ảnh hưởng đến họp Thượng Đỉnh. Ngay từ lúc Nixon lên làm Tổng Thống, họ đã chấp nhận là chấm dứt sự can thiệp của Mỹ vào cuộc xung đột là một đòi hỏi chính trị không thể tránh được. Sau khi đã hy sinh quá nhiều máu mủ và của cải, hầu hết dân Mỹ muốn nghe là người Mỹ đã làm mọi thứ mà họ đã có thể làm cho Sài Gòn và đã đến lúc người Việt chấp nhận trách nhiệm cho số phận của chính họ với chỉ có sự hỗ trợ hậu cần từ Hoa Kỳ. Nhưng vì đã rêu rao ý tưởng là danh tiếng của Mỹ và ngay cả nền hoà bình thế giới sẽ tùy thuộc vào sự độc lập của MNVN, Bạch Ốc không thể đối diện với thực tế là lòng quyết tâm chính trị của Mỹ để cứu Việt Nam đã hoàn toàn mất hết. Hơn nữa, lời nói của Nixon là Việt Nam quan trọng hơn họp Thượng Đỉnh đã che mờ cái giới hạn của Nixon và Kissinger để nhìn ra sự quan hệ mới với Nga Sô như là điều ắt có cho sự thành công của chính sách đối ngoại của họ và cơ hội Nixon làm tổng thống lần thứ hai.

  Trong tuần lễ sau khi Kissinger trở về từ Ba Lê, ông và Nixon vất vả tìm cách chống đỡ lời hứa không bỏ rơi Việt Nam và vẫn giữ họp Thượng Đỉnh. Nixon đề nghị dội bom hai ngày vì ông nghĩ rằng dư luận dân chúng sẽ ủng hộ vì họ không muốn chính phủ “giống như những anh khổng lồ đáng thương.” Nixon càng trở nên do dự tiến hành với chương trình Thượng Đỉnh: “cụng ly với giới lãnh đạo Nga Sô và đạt đến thỏa thuận trong khi xe bọc giáp và khí giới của họ đang được dùng trong cuộc tổng tấn công rộng lớn đối với đồng minh của mình thì thật là vô lý và không thể tưởng tượng được.” Nhưng theo lời đoán chính xác của Haig, những lời tuyên bố của Nixon “không đến từ lòng thành thật mà từ một vai trò ‘ngược lại.’”

  Khi Kissinger đến Washington vào buổi chiều hôm mùng 2 tháng năm, ông cùng Nixon, Haig, và Haldeman đi dạo thuyền để bàn về tình trạng tiến thoái lưỡng nan này. Cả Nixon lẫn Kissinger đều không muốn bỏ họp Thượng Đỉnh, nhưng họ lại không muốn đến Moscow trong cương vị yếu ớt, đây một trường hợp có thể xẩy ra nếu Hà Nội đang ở ngưỡng cửa đánh bại Sài Gòn. Kissinger nói “không có gì còn ảnh hưởng đến tình trạng ở MNVN.” Nixon nói “Hoàn toàn đồng ý.” Kissinger tiếp theo “Thế mới thê thảm cho tình trạng bây giờ!” Nixon thở dài “Đúng vậy!”

  Tuy nhiên, họ đồng ý là cần có một số hành động quân sự rõ ràng, may ra nó sẽ làm thay đổi tình thế. Dù có hậu quả quân sự gì đi nữa, nó sẽ đánh bại những lời than phiền là tổng thống giống như con hổ giấy, nói thì dữ nhưng không có hiệu quả nào. Nhưng cùng lúc, họ sợ hành động mạnh sẽ khiến Moscow hủy cuộc họp, điều sẽ làm tan vỡ chính sách ngoại giao của tổng thống và nguy hại đến tăm tiếng của ông với dân chúng.

  Nixon quyết định đặt mìn hải cảng Hải Phòng để làm gián đoạn tiếp vận dầu và những nhu liệu khác cho Hà Nội. Hành động này ít tàn phá hơn dội bom và có vẻ không đến nỗi trêu tức Liên Xô để đi đến hủy bỏ họp Thượng Đỉnh. Thật ra, chính phủ Hoa Kỳ định bảo Moscow chọn lựa khác đã có thể là Mỹ chống lại hoặc dời cuộc họp cộng với không kích Hà Nội và Hải Phòng mà nó có thể gây tổn thất cho tàu bè và sinh mạng của Liên Xô.

  Quyết định của Nixon liên quan đến chính trị bầu cử hơn là cứu giúp MNVN. Thăm dò dư luận cho thấy người Mỹ muốn ông trả đũa MBVN và đi họp Thượng Đỉnh. Một vài cố vấn của ông tin rằng đặt mìn Hải Phòng để làm gián đoạn những đường dây tiếp tế cho MBVN chỉ là một hành động tượng trưng hơn là cố ý mang đến hiệu quả; nó sẽ không làm thay đổi kết quả của cuộc tấn công của MBVN lúc đó, và với những đường tiếp tế khác cho MBVN, nó sẽ có ít tác dụng trên kết cục của cuộc chiến tranh.

  Trong bài diễn văn từ Văn Phòng Bầu Dục chiều ngày mùng 8 Tháng Năm, Nixon nhấn mạnh trên giá trị của cuộc họp Thượng Đỉnh Liên Xô và Hoa Kỳ hơn là cắt đường tiếp tế cho MBVN bằng cách đặt mình các hải cảng và dội bom đường xe hỏa. Bức thư của Brezhnev hôm mùng 6 tháng Năm làm tăng quản ngại về triển vọng Liên Xô sẽ ngại ngùng gặp gỡ. Brehnev đã cảnh cáo Nixon là gia tăng hành động quân sự của Mỹ ở Việt Nam có thể làm nguy hại đến quan hệ Liên Xô-Hoa Kỳ. Ông nói “Trên nhiều phương diện, chấm dứt chiến tranh Việt Nam sẽ dọn đường cho tiến triển quan trọng trong quan hệ giữa hai quốc gia chúng ta.”

  Nixon dùng bài diễn văn để nói thẳng với Liên Xô. Ông nói “Chúng tôi biết ông phải giúp đồng minh của ông và ông không thể mong chúng tôi làm điều gì khác ngoài việc tiếp tục giúp đỡ đồng minh của chúng tôi, nhưng hãy để chúng tôi giúp đồng minh của chúng tôi chỉ với mục đích tự vệ chứ không phải với mục đích mở những cuộc xâm lăng sang láng giềng. Nếu không, nguyên nhân hòa bình sẽ bị nguy hiểm trầm trọng.

  Giống như Nixon và Kissinger, Brezhnev nhận thức là sự quan hệ với một đối thủ siêu cường quốc quan trọng hơn cuộc xung đột ở Việt Nam, nhất là MBVN dường như đang hướng về một chiến thắng sau cùng. Trong ba ngày sau diễn văn của Nixon, cả hai bên đều cố gắng giữ buổi họp. Hôm mùng 9 tháng Năm, Nixon sai Kissinger cố gắng hết sức mình để tạo cảm tưởng là “Tôi [Nixon] tuyệt đối nhất định chấm dứt chiến tranh và sẽ làm bất cứ gì cần thiết để đạt đến mục tiêu này.” Tuy nhiên trong lúc đó, ông muốn Kissinger làm sáng tỏ là đây hoàn toàn không giống như cuộc đương đầu với Moscow về vụ Cu Ba vào năm 1962. Không như Kennedy, ông đã không phong tỏa hải cảng vì làm như vậy cần phải ngăn tàu Liên Xô và những tàu tiếp liệu khác tiến về MBVN. Đặt mìn cũng đủ đóng các hải cảng ở MBVN. Sáng hôm đó, Kissinger gọi điện thoại cho Dobrynin để nói “Những vùng ở ngoài Đông Nam Á, chúng ta tiếp tục giao thiệp như đã hứa.”

  Hôm 11 tháng Năm, báo chí Liên Xô chỉ phê bình sơ sơ Mỹ đặt mìn hải cảng Hải Phòng trong khi bộ trưởng kinh tế Liên Xô tuyên bố với báo chí Hoa Kỳ ông ta tự tin là họp Thượng Đỉnh sẽ diễn ra. Một bức thư của Brezhnev gửi cho Nixon hôm đó không nói gì về buổi họp ở Moscow đã công nhận ngầm lời tuyên bố của ông bộ trưởng. Những nghi ngờ tồn tại về Liên Xô hứa họp Thượng Đỉnh đã tan biến hôm 12 tháng Năm khi Dobrynin bảo Kissinger là chính phủ Liên Xô sẽ hỏi về thủ tục họp hành trong hai ngày sắp đến. Kissinger nói với Nixon “Chúng ta đã qua cơn sóng gió. Tôi nghĩ là chúng ta có thể vừa đặt mìn, dội bom, vừa họp Thượng Đỉnh.”

  Quyết định họp Thượng Đỉnh của Moscow làm Nixon tự tin. Ông muốn nhân viên dùng lời cam kết của Liên Xô để chống lại các đối thủ chính trị. Những phê bình về ông như nóng giận, khó chịu, và không quân bình khi làm nguy hiểm đến cuộc họp với Moscow bằng cách bành trướng chiến tranh trên không và biển làm ông tức giận. Ông diễn tả những lời phê bình này là “180 độ ngược lại với sự thật.” Ông muốn dân chúng có một hình ảnh của ông “bình tĩnh” trong trường hợp khó khăn để có những quyết định khôn ngoan. Ông ra lệnh làm một cuộc vận động vũ bão để đòi hỏi xin lỗi từ những nhà bình luận vì đã đoán là “đặt mìn Hải Phòng sẽ đưa đến mọi hậu quả từ Thế Chiến Thứ Ba cho đến hủy buổi họp…Một lần nữa, đây là bằng chứng hùng hồn nhất là không cần biết chúng ta làm gì và kết quả ra sao, bọn dân chủ sẽ xé tan chúng ta ra từng mảnh bằng những phê bình trên báo chí và truyền hình.”

  Những tấn công của chính phủ vảo báo chí đã không làm ai thay đổi ý kiến về chiến tranh. Nó cũng không thắng được điểm nào từ cử tri trong cuộc vận động bầu cử tổng thống đang phát triển. Không một cố gắng quan hệ quần chúng nào quan trọng bằng thực tế trên chiến trường ở Việt Nam hay trong cuộc hội thảo sắp đến ở Moscow. Như chuyến đi Bắc Kinh của Tổng Thống đã chứng tỏ, những thắng lợi thật sự trong quan hệ với kẻ thù Cộng Sản để giảm thiểu cơ hội chiến tranh hay để sắp đặt cái Nixon gọi là cơ cấu hòa bình quan trọng cho tiếng tăm của tổng thống rất nhiều so với vật lộn với những chỉ trích méo mó.

  Nixon tuy vậy không thể buông rơi cái cảm nghĩ là những cảnh cãi nhau với đối thủ chính trị và xung đột ở Việt Nam là những cuộc thi đua cần phải thắng. Mặc dù MNVN chống trả cuộc tấn công của Hà Nội một cách hiệu nghiệm hơn với sự giúp đỡ quân sự gia tăng của Mỹ, Nixon muốn họ làm hơn. Ông bảo Haig hôm 16 tháng Năm “Trời ơi! nói cho Abrams là tôi muốn nó và Thiệu và những người còn lại phải nghĩ bằng cách thử nhiều thứ khác nhau. Tôi không muốn họ làm những lỗi lầm quan trọng, đừng lười biếng mà không thử…ông hiểu chưa?”

  Trong số những hành động, như tăng gấp đôi pháo đài bay B-52, Nixon muốn Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (CIA) tăng cường chiến tranh tuyên truyền mà ông cho là “quá tệ.” Ông hỏi Haig “Họ có đang chơi trò bẩn không?” Haig trả lời “CIA có loan tin đe dọa đổ bộ.” Haig cũng tường trình là họ có thả hàng triệu truyền đơn nói MBVN đang bị tàn phá và “quê hương của họ bị tan tành.” Nixon hài lòng, ông nói “Tôi nghĩ đây là thời điểm quay sang tuyên truyền. Chúng ta phải chắc chắn reo rắc hãi hùng vào thâm tâm họ.” Ông đề nghị dọa người MBVN với tin tức là hai sư đoàn thủy quân lục chiến Mỹ sẽ đổ bộ xuống khu Hà Nội-Hải Phòng giữa hôm mùng 1 và 15 tháng Sáu. Ông cũng nghĩ là những tin đồn về nổi loạn ở những thành phố ngoài MBVN và tất cả đàn bà và trẻ em đang được di tản khỏi Hà Nội có thể thuyết phục một số quân đội MBVN trong MNVN đào ngũ về nhà để phòng thủ gia đình.

  Buổi họp ba tiếng tối hôm 24 tháng Năm không được thân thiện như vậy. Sau buổi lễ ký tên ở Điện Kremlin, Nixon cùng Brezhnev đi đến nơi nghỉ mát của Brezhnev ở ngoại ô Moscow. Nghe lời Brezhnev dụ, Nixon để lại Kissinger và những người cận vệ, họ đến nơi sau bốn mươi phút muốn gãy cổ vì ổ gà đầy đường và một tiếng nhồi trên sông Moscow bằng thuyền lướt trên mặt nước của Brezhnev. Kissinger cùng với hai người của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và những ngươì cận vệ bực mình bắt kịp với Nixon sau đó ở trại nghỉ mát vào lúc Brezhnev, Kosygin, và Chủ Tịch Nikolai Podgorny đang mắng mỏ người Mỹ về Việt Nam.

  Chẳng mấy chốc trong buổi bàn luận vào chiều hôm đó khi Brezhnev tả Trung Đông và Việt Nam như hai vấn đề cấp bách, Nixon đi vào một câu trả lời dài về chính sách Việt Nam của ông. Ông cẩn thận tránh trường hợp để “vấn đề ngoại lai” làm cản bước tiến của những vấn đề quan trọng hơn. Sau đó ông bênh vực thành tựu của ông về Việt Nam bằng cách tả vai trò thương thuyết của Hoa Kỳ là “rất nhân nhượng.” Nhưng ông công nhận rằng sự xung đột đó là một vấn đề quốc tế quan trọng duy nhất làm vẩn đục quan hệ của họ. Ông mong muốn chấm dứt chiến tranh, đó là mối quan tâm chung của cả hai bên.  Brezhnev không nhượng bộ về chủ đề Việt Nam. Ông nói Hoa Kỳ đang thi hành “những hành động quân sự dã man…và một cuộc chiến xấu hổ.” Ông nói “Việt Nam không thể nào đe dọa nước Mỹ. Hành động dội bom MBVN hiện nay của Mỹ đi ngược lại những lời tuyên bố yêu chuộng hòa bình của họ. Hơn nữa, cuộc chiến này đang ngăn cản những cải thiện quan trọng cho quan hệ giữa Nga Mỹ.” Brezhnev khẳng định là danh tiếng của Mỹ sẽ không đi xuống mà còn đi lên nếu chấm dứt chiến tranh ngay lập tức. Ông cảnh cáo là sẽ có lúc Hà Nội đồng ý để cho các nước khác gửi quân sang cùng với họ chiến đấu chống Mỹ. Nixon đốp chát “Điều dọa dẫm này không mảy may làm chúng tôi sợ, nhưng cứ tự nhiên thi hành.”

  Trong những câu độc thoại của Brezhnev, không có điều nào quan trọng hơn bằng lời ông nhắc lại về một buổi đàm thoại với Kissinger trong cuộc viếng thăm Moscow trước. Brezhnev nói “Giáo sư Kissinger bảo tôi rằng nếu có một dàn xếp hòa bình ở Việt Nam, ông sẽ đồng ý để cho người Việt [MBVN] làm bất cứ gì họ muốn, có bất cứ gì họ muốn sau một khoảng thời gian, tỷ dụ như 18 tháng. Nếu điều này chắc chắn có thật và chính xác và nếu người Việt [MBVN] đoán ra, họ sẽ thông hiểu trên căn bản đó” để tiến đến thỏa thuận. Nói vắn tắt, Kissinger trở lại với lời đề nghị là nếu Hà Nội đồng ý về một dàn xếp và dành cho một thời gian êm thắm sau đó – 18 tháng - nước Mỹ sẽ không can thiệp vào những cuộc tấn công xảy ra sau thời gian này.

  Brezhnev hỏi nếu Kissinger sẵn sàng để Sài gòn rơi vào tay MBVN, tại sao Mỹ không chấm dứt chiến tranh ngay từ bây giờ? Dĩ nhiên, câu trả lời là chính phủ Mỹ, tối thiểu muốn có cái vẻ bề ngoài của một cuộc thương thuyết thành công. Hơn nữa, Hà Nội cũng không chịu dàn xếp với điều kiện để chính phủ Thiệu còn cầm quyền. Đơn giản là họ không tin tưởng là Mỹ sẽ để MBVN thắng Sài Gòn bất cứ lúc nào. Brezhnev nói với Nixon “Người Việt [MBVN] quan tâm nhiều đến sợ bị lừa đi đến dàn xếp” hơn là về một thoả thuận hòa bình. Trong khi chính phủ Hoa Kỳ có thể không mang quân trở lại Việt Nam, nhưng họ vẫn có thể dùng hải lực và không lực vũ bão để làm chiến thắng sau cùng vuột ra khỏi tay Hà Nội.

  Mặc dù một viên chức Liên Xô nói với một đồng môn Mỹ là những lời tuyên bố [của Liên Xô] về Việt Nam là được dàn cảnh để tạo ra cái bình phong hầu thỏa mãn MBVN và những nước khác mong đợi Moscow đứng lên chống chọi Hoa Kỳ, nhưng sự cương quyết trong những lời phê bình cho thấy có điều gì khác ngoài mục đích chính trị tiêu biểu – đó là những cảm tưởng bất bình chân thật đối với một nước khổng lồ Hoa Kỳ không thương tiếc tấn công một nước Việt Nam tí hon.

  Nixon và Kissinger sau này kể lại cách đối phó của tổng thống trước những võ mồm Nga Sô là “rất cứng rắn.” Kissinger bảo Haldeman là Nixon đã làm một cú “thần sầu.” Nhưng phản ứng của Nixon đã không cứng và cũng không thần sầu. Vì nóng lòng không muốn để Việt Nam làm hại đến họp Thượng Đỉnh và tin rằng ông không thể chiêu dụ Liên Xô để ép Hà Nội vào một thay đổi ngoạn mục trong vai trò thương thuyết, Nixon diễn tả một cách đơn sơ là cuộc hội thảo về Việt Nam với Liên Xô “rất có ích.” Ông hứa sẽ tiếp tục đi tìm một kết thúc chiến tranh có thương lượng với nhau.

  Liên Xô cũng không muốn để Việt Nam trở thành một vấn đề then chốt trong cuộc họp Thượng Đỉnh. Hơn nữa, chính phủ Liên Xô, một chính phủ chưa từng hối tiếc về sự đàn áp và cai trị Đông Âu, điển hình nhất là Hung Gia Lợi vào năm 1956 và Tiệp Khắc vào năm 1968, không thể không biết đến cái ngược đời mỉa mai khi đòi hỏi Hoa Kỳ tôn trọng quyền tự quyết của Việt Nam. Tóm lại, Moscow không có ý định hy sinh quyền lợi của họ vì Việt Nam hay bất cứ quốc gia nào khác làm cản trở đến hoà hoãn với Hoa Kỳ. Từ một bữa tiệc thịnh soạn thân mật say sưa, đùa cợt, cho đến ba tiếng đối chọi, Kissinger nói “Chúng tôi đi từ vui vẻ cho đến gấu ó rồi trở lại cười đùa trong vòng năm tiếng.” Vào tháng Sáu, dù rất muốn giữ tiếng tăm đem đến bởi thành quả của hai cuộc họp Thượng Đỉnh ở Bắc Kinh và Moscow để lót đường cho chắc chắn trúng cử, Nixon cảm thấy cần phải chú ý vào Việt Nam. Trong mười ngày đầu, Nixon và Kissinger hy vọng vào những kết quả của dội bom và thả mìn. Trước đó vào đầu tháng Năm, khi khởi động tấn công MBVN, Nixon bảo Kissinger, Haig, và Connally là ông ta sẽ không để Mỹ thua ở Việt Nam. Ông nói “Tôi nói thẳng, MNVN có thể thua. Nhưng nước Mỹ không thể thua…Bất cứ gì xẩy ra cho MNVN, chúng ta sẽ cạo sạch MBVN…Dù chỉ một lần, chúng ta phải dùng hoả lực tối đa của xứ sở…để đối phó với quốc gia tí hon ỉa đùn này.”

  Vào cuối tháng Sáu, cứ mỗi 41 phút lại có những chuyến bay B-52 thả bom trên nước Việt Nam. Nixon bảo Kissinger “Thấy chưa, đây đúng là một hình phạt cho những người đó…Đó là một màn pháo kích lớn hơn ở trận Verdun.” Kissinger đồng ý “Ồ, lớn hơn nhiều chứ.” Ông nói rõ “18 chiếc B-52 tương đương với một ngàn máy bay trong Thế Chiến Thứ Hai.”

  Hà nội công nhận những trận không và hải kích đã gây tổn hại quan trọng cho lực lượng và tinh thần quân đội nhân dân, nhưng họ vẫn quyết tâm chống sự xâm lấn của Mỹ. Hôm mùng 9 tháng Sáu, Kissinger nói với Nixon là triển vọng của Sài gòn “sáng sủa hơn nhiều” vì kết quả của phản công. Hơn nữa, dấu hiệu của Bắc Kinh và Moscow có ý định cải thiện quan hệ với Washinton hơn là đi trợ giúp Hà Nội đã “gây ra một cảm tưởng bị cô lập ở MBVN.” Trong khi đó, thăm dò ý kiến trong nước cho thấy đa số người Mỹ ủng hộ phản ứng cứng rắn của chính phủ đối với những cuộc tấn công của Hà Nội. Nixon tin tưởng là ông đang ở trong cương vị khá hơn để trở lại hoà đàm Ba Lê. Kết quả là ông đề nghị Kissinger và Lê đức Thọ họp kín với nhau vào cuối tháng. Hôm 20 tháng Sáu, MBVN đồng ý trở lại bàn thương thuyết vào tháng Bẩy. Quyết định của họ dựa trên sự nhận thức là những cuộc tấn công của họ hiện giờ sẽ không làm Sài Gòn xụp đổ và trên những tổn thất nặng nề họ đang gánh chịu vì những cuộc tấn công của Mỹ. Hơn nữa, một nhượng bộ mới của Hoa Kỳ ở Moscow làm thương thuyết trở lại thêm hấp dẫn. Nixon hứa Hoa Kỳ sẽ chịu một hội đồng bầu cử tam phương có thể bao gồm chính phủ Thiệu, Việt Cộng, và nhóm trung lập. Một phụ tá của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia nói với Kissinger là Bạch Ốc dấu kín lời đề nghị này với MNVN vì TT Thiệu sẽ “không nghĩ là công bằng khi bị đối xử ngang hàng với Việt Cộng” và vì lời đề nghị đó có triển vọng gây “chia rẽ trầm trọng giữa chúng ta [Mỹ] và chính phủ MNVN” về “vấn đề ai có quyền thế ở Sài Gòn.” Trong suốt tháng Sáu và tháng Bẩy, cuộc tranh cử tổng thống trở nên hào hứng hơn, Nixon và mọi người trong Bạch Ốc lo cho Tổng thống tái trúng cử. Nixon dò xét kỹ càng mọi diễn biến nội bộ và thế giới có thể ảnh hưởng đến kết quả bầu cử, nhất là những tin tức tiêu cực về chính sách ngoại giao. Ông đặc biệt lưu ý đến những lời phê bình về Thoả Ước Giới Hạn Vũ Khí Chiến Lược và bế tắc ở Ba Lê. Một nhà báo gây nghi vấn về những lời tuyên bố của Nixon là có tiến triển chấm dứt chiến tranh vì ông “đã không đi đến đâu trong việc nhờ Nga Sô về vấn đề Việt Nam” và Nga Sô vẫn đang tiếp tục giúp đỡ MBVN để đánh tan mọi quan tâm của Hà Nội là cuộc họp Thượng Đỉnh đã phản bội chủ đích chiến tranh của họ.

  Những bản tường trình từ đại sứ Thụy Điển ở Hà Nội về những thiệt hại cho đê điều ở đồng bằng sông Hồng vì dội bom và từ những phóng viên Hoa Kỳ là sự sử dụng áp lực quân sự của Nixon đã không làm hoà đàm tiến triển gây gia tăng mối lo âu là Việt Nam vẫn còn là bãi mìn chính trị cho tổng thống. Bạch Ốc rất quan tâm về lời tuyên bố của ứng cử viên tổng thống McGovern là ông ta có thể sẽ rút hết quân về và chấm dứt chiến tranh nội trong 90 ngày sau khi lên làm tổng thống. Colson được trao phó nhiệm vụ “Đập nát câu nói đó.” Khi đài truyền hình NBC chiếu những đoạn phim về “trẻ con MBVN bị thương nặng bởi bom bi mới được chế tạo và những khu dân cư bị tàn phá,” Bạch Ốc phản công bằng cách cho bài phóng sự là “thum thủm” và đòi hỏi “báo chí ngoại quốc không thiên vị” khác phải được phép tiếp cận đến nạn nhân và nơi bị phá hủy.

  Quan hệ cải thiện với Bắc Kinh và Moscow tiếp tục đem lại những mối lợi chính trị. Giữa ngày 19 và 23 tháng Sáu, Kissinger làm một chuyến công du Trung Quốc nổi tiếng nữa; điều này chứng tỏ rằng họp Thượng Đỉnh với Liên Xô đã không làm nguy hại đến những thắng lợi ngoại giao Trung -Mỹ gần đây. Kissinger tin rằng Bắc Kinh vẫn gắn bó với mối thân thiện mới với Mỹ để làm đối tượng quân bình với Liên Xô. Những cuộc đàm thoại ở Bắc Kinh chủ ý về Việt Nam cũng đem đến sự yên tâm hợp lý là Trung Quốc không có ý định kéo dài chiến tranh Việt Nam. Nhưng trong trường hợp họ rục rịch gia tăng giúp đỡ Việt Nam, Kissinger nói với Nixon “Tôi đã cứng rắn cảnh cáo họ nếu có một đơn vị quân Trung Quốc nào xuất hiện ở Việt Nam, ngay cả những đơn vị lao công, nó sẽ có ảnh hưởng xâu đậm đến mối quan hệ giữa hai nước.”

  Kissinger nhấn mạnh với Chu Ân Lai “tương lai của sự quan hệ của chúng tôi với Bắc Kinh nhất định quan trọng đối với tương lai của Á Châu hơn là đối với những gì xẩy ra ở Nam Vang, Hà Nội, hay Sài Gòn.” Ông giải thích là chính phủ Hoa Kỳ cần chấm dứt chiến tranh “theo một phương pháp mà nó không ảnh hưởng đến toàn bộ cương vị quốc tế của chúng tôi…và sự ổn định trong nước Mỹ.” Chu ân Lai muốn biết nước Mỹ sẽ làm gì nếu cuộc nội chiến tiếp tục sau khi quân đội Mỹ rút lui. Kissinger trả lời rằng nếu giao tranh xẩy ra ngay lập tức sau khi Mỹ rút lui, điều đó có nghĩa “Đây là trò lừa dối để chúng tôi rút quân và chúng tôi không thể chấp nhận điều này.” Tuy nhiên, nếu có một thời gian nghỉ ngơi không đánh nhau lâu dài, “cơ hội mà chúng tôi trở lại thì rất mỏng manh, vô cùng mỏng manh.” Chu ân Lai nhắc Kissinger là ông đã nói như vậy vào năm 1971 và Kissinger không chối cãi điểm này.

  Đối với Nixon và Kissinger, cái chính trị của chính sách ngoại giao trong lúc tranh cử tổng thống tiếp tục xoay quanh chủ đề Việt Nam. Thất bại của Hà Nội trong cuộc tấn công vào mùa xuân để xâm chiếm MNVN là một thắng lợi về tuyên truyền cho Bạch Ốc: Chương trình Việt Nam hoá chiến tranh đang thành công, chính phủ Hoa Kỳ có thể rút về tất cả quân lính còn lại trong vòng vài tháng sắp đến, và họ đang đạt đến “Hoà bình trong danh dự.”

  Tuy nhiên trong lúc đó, Nixon ngần ngại về viễn cảnh chiến tranh chấm dứt ba tháng trước khi bầu cử. Ông sợ phản đối chính trị trong nước cho là dàn xếp hòa bình được thúc đẩy bởi chính trị bầu cử hơn là triển vọng thực tiễn cho MNVN tự trị. Marvin Kalb của đài CBS tường thuật “Có một cảm tưởng chắc chắn và càng lan rộng trong số các quan chức trong chính phủ là MBVN sẽ chờ cho đến qua bầu cử và nếu muốn có một phá vỡ bế tắc trước bầu cử thì chính Nixon là người sẽ phải nhượng bộ chứ không phải Hà Nội.” Chiến lược chính trị của Nixon về Việt Nam là tổng hợp hành động quân sự trong khi tiếp tục thương thuyết. Kissinger đánh điện cho Bunker hôm 24 tháng Sáu “Nên thông tin cho Thiệu về chương trình hành động liên quan về mặt thương thuyết, nhấn mạnh lần nữa là mặt này tùy thuộc vào sự cần thiết tập trung tối đa ủng hộ quốc nội bằng cách dùng hành động quyết liệt hỗn hợp trên chiến trường cùng với sự uyển chuyển trong nước trên phương diện thương thuyết.

  Ngược lại với Nixon, Kissinger nhận ra nhiều lý do để dàn xếp trong khi tranh cử. Ông không nghĩ là Nixon sẽ có một cương vị khá hơn để buộc Hà Nội vào một dàn xếp sau cuộc bầu cử tháng Mười Một. Ông nói với Joe Alsop “Điều kinh ngạc nhất là không ai, ngay cả Brezhnev hay bất cứ người cộng cản nào, gây khó khăn cho chúng ta như chính người Mỹ. Không một người cộng sản nào dám đòi hỏi những điều mà những người theo Đảng Dân Chủ đang yêu sách.” Kissinger lo lắng ngay cả những công việc khó khăn của một tân tổng thống dành cho Nixon cũng không đủ để ngăn cản Quốc Hội dưới sự kiểm soát của Đảng Dân Chủ cắt đứt mọi ngân quỹ cho chiến tranh và để mặc MNVN cho số phận của họ với không có một sự giúp đỡ liên tục nào từ Hoa Kỳ.

  Kissinger cũng tin rằng với sự thất bại tấn công của Hà Nội cộng với lo sợ Nixon sẽ thả dàn dùng hỏa lực sau khi trúng cử đã làm MBVN mong mỏi dàn xếp sớm. Kissinger nói với John Mitchell “Tôi nghĩ chúng ta sẽ giải quyết vấn đề Việt Nam vào mùa hè này.” Ông mong sẽ có một phá vỡ bế tắc vào tháng Chín nếu thăm dò ý kiến cho thấy McGovern ở sau Nixon xa.

  Kissinger hy vọng thêm là sẽ có một thỏa thuận từ cuộc đàm thoại giữa Lê đức Thọ, Xuân THủy và ông ta hôm 19 tháng Bẩy trong một buổi họp sáu tiếng rưỡi, dài chưa từng thấy giữa họ với nhau. Mặc dù giọng thân thiện khác hẳn với những lần gặp gỡ trong quá khứ và “nội dung của buổi họp xấu tốt lẫn lộn,” Kissinger tin là điều này có thể “báo trước tiến triển quan trọng… đi đến một thoả thuận.” Ông thấy lý do để nghĩ rằng MBVN rồi sẽ có thể đồng ý về một cuộc ngưng bắn và rút lại yêu sách chính trị đòi lật đổ chính phủ Thiệu. Họ [MBVN] bỏ ngỏ tình trạng có thể thương thuyết giữa Việt Cộng và chính phủ MNVN không có TT Thiệu, “một bước tiến quan trọng,” và tuyên bố họ quan tâm đạt đến một thỏa thuận trước khi nhiệm kỳ tổng thống chấm đút.

  Tuy thế, họ cũng bày tỏ sự nghi ngờ về những hứa hẹn là Hoa Kỳ sẽ không dính dáng vào những xung đột trong tương lai bằng cách “gạn hỏi nhiều lần xem Mỹ có sẵn sàng tôn trọng bất cứ những thoả thuận nào, có ký tên và không ký tên.” Kissinger trấn an họ rằng ông tách rời hai vấn đề quân sự và chính trị không phải là vì nước Mỹ có ý định đánh lừa Hà Nội. Chúng tôi cư xử “trong tinh thần có thiện chí”; chúng tôi không định trở lại Việt Nam sau khi rút lui, không cần biết hậu quả chính trị ra sao ở MNVN. Kissiger nói cho Dobrynin trên đường trở về Mỹ “Giọng lưỡi của MBVN chưa bao giờ nghe lọt tai như thế…và những buổi đàm thoại bỏ ngỏ tình trạng có thể có một dàn xếp.” Nhưng nếu không, Kissinger nói với Nixon vào cuối tháng Bẩy “Chúng ta phải làm bất cứ gì cần thiết để chấm dứt cuộc chiến này. Chúng ta sẽ không chừa cái gì.”

  Vào mùa hè năm 1972, Nixon ở trong cương vị rất vững chắc. Những cuộc thử lửa trong tháng Năm và tháng Sáu cho thấy Nixon có nhiều phần thắng so với tất cả những đối thủ có tiềm lực của Đảng Dân Chủ. Sau khi Đảng Dân Chủ đề cử McGovern, những cuộc thăm dò ý kiến cho thấy Nixon có vẻ vô địch. Giữa 53 và 57 phần trăm cử tri lúc nào cũng chuộng Nixon trong khi McGovern chỉ có 37 phần trăm.

  
Chương Mười Một Mục Lục Chương Mười Ba

  

Đôi Bài Trùng Quyền Thế - Robert Dalleck