|
Nixon bước vào mùa thu năm 1971 trong một tâm trạng hớn hở. Hội nghị Thượng Đỉnh ở Bắc Kinh và Moscow sẽ được tổ chức vào nửa năm đầu của 1972 khiến ông bảo Colson “Quan hệ quốc tế chính là vấn đề của chúng ta.” Nếu Nixon được tái cử, đó là vì những thắng lợi về chính sách ngoại giao. Nói riêng, hòa hoãn với Trung Quốc và Liên Xô dường như sẽ giúp chấm dứt chiến tranh Việt Nam, và quan trọng hơn là về đường dài, nó sẽ giảm thiểu những căng thẳng của chiến tranh lạnh rất nhiều. Trong một bài diễn văn cho buổi gặp gỡ với giới lao động vào tháng Mười Một, ông nói “Mục tiêu của chúng ta hiện nay là mang đến hòa bình mà nó sẽ chấm dứt các chiến tranh và vượt trên khỏi…chấm dứt cuộc chiến mà chúng ta đang dính vào.” Việt Nam vẫn còn là đám mây đen bao phủ lên những hứa hẹn cải thiện quan hệ thế giới của chính phủ, nhưng những lời tuyên bố của Nixon vào mùa thu về rút quân và chấm dứt chiến tranh đã không thể nào lạc quan được hơn nữa. Luật gia hạn đôn quân vào tháng Chín năm 1971 cho phép ông giữ một lực lượng quan trọng ở Việt Nam đi ngược lại với những lời tuyên bố về chiến tranh kết thúc sớm. Thay vào đó, ông nhấn mạnh rằng sự bảo đảm một quân đội hùng mạnh [bằng cách gia hạn đôn quân] đã tạo cho ông phương tiện “để thương thuyết về hoà bình trong thời gian tối quan trọng này.” Nixon và Kissinger vẫn tin tưởng là họ có thể ép buộc một dàn xếp. Hôm 30 tháng Chín, khi Kissinger gặp Gromyko, ông nói “chúng tôi đang ở trong giai đoạn cuối của cuộc chiến mà chúng tôi quyết tâm chấm dứt không bằng cách này cũng bằng cách khác.” Ông tiên đoán là hòa bình sẽ đến vào mùa đông 1971-1972 bằng một hành động đơn phương của Mỹ, nghĩa là một cuộc hành quân thật lớn để chấm dứt xung đột, hoặc qua thương thuyết. Ông cố gắng ép Gromyko bằng cách tuyên bố rằng phương pháp đơn phương đó sẽ gây ra rủi ro cho hoà hoãn và gây xung đột giữa Mỹ và Nga. Kissinger nói ông “sửa soạn bí mật đi Moscow để hội họp với một nhân vật tương đương từ Hà Nội trong ba ngày.” Gromyko cho đây là một lời đề nghị hay, nhưng ông không nghĩ là Moscow có khả năng ép buộc Hà Nội vào một thoả hiệp. Hơn bao giờ hết, Nixon cố gắng gia tăng sức mạnh của Mỹ trong hội đàm Ba Lê bằng cách chống lại những người có chủ trương lụn bại trong báo chí, Quốc Hội, và dân chúng. Vào tháng Mười, khi báo đăng thủy thủ trên hàng không mẫu hạm Coral Sea ký thỉnh nguyện lên Quốc Hội để ngăn tàu không tham dự một hải vụ nữa ở Việt Nam và đăng về những chương trình rút quân Mỹ toàn diện trước cuối năm 1971, Nixon sai Kissinger đi dẹp những câu chuyện như vậy, sa thải người phao tin, hoặc ít nhất làm im mồm bọn nghiện thuốc loan những tin đó. Trước công chúng, Nixon bày tỏ lòng tin tưởng chấm dứt chiến tranh của ông. Hôm 25 tháng Chín, tại một buổi tường trình ngắn ở Portland, Oregon với những doanh gia báo chí ở vùng tây bắc, ông tả những tiến triển quan trọng hướng về hoà bình trong danh dự - ba trăm ngàn quân lính đã rời khỏi Việt Nam, số tử thương chỉ bằng một phân số nhỏ so với năm 1968, triển vọng tù binh Mỹ được thả, và một chính phủ MNVN phi cộng sản. Trong một buổi nói chuyện trực tiếp truyền hình cho cả nước ngày mùng 9 tháng Mười Một, Nixon tuyên bố ông hy vọng chấm dứt chiến tranh và thực hiện một mục tiêu chưa bao giờ thấy trong thế kỷ thứ hai mươi – “một thế hệ tràn đầy hoà bình.” Trong một buổi họp báo hôm 12 tháng Mười Một, ông tuyên bố 80 phần trăm quân số Mỹ - 365,000 người – đã rút khỏi Việt Nam và 45,000 quân của số 184,000 quân còn lại sẽ rời nội trong hai tháng tới. Trong một bài diễn văn khác hôm mùng 1 tháng Chạp trước một nhóm thanh thiếu niên quốc gia, ông tuyên bố ông đang chấm dứt chiến tranh. Nhưng sau lưng, Nixon và Kissinger không chắc như vậy. Họ bàn về tình trạng có thể là họ sẽ phải dùng đến hành động quân sự một lần nữa. Nhưng họ đang đối diện với một cuộc thảo luận mới ở Quốc Hội về việc bắt buộc rút tất cả quân Mỹ về trước ngày mùng 1 tháng Sáu, 1972, và điều này làm họ tức giận. Kissinger than phiền với một dân biểu “Họ vô trách nhiệm không thể tưởng tượng được, phải chi chính sách của chính phủ không hữu hiệu thì còn có lý, đằng này nó đang thành công.” Kissinger quên là hoà đàm bí mật ở Ba Lê đang bế tắc. Ông cảnh cáo là Quốc Hội có thể làm tan vỡ mọi khả năng thương lượng và lòng tin tưởng vào sự đáng tin cậy của Mỹ. Quan điểm của Nixon và Kissinger hầu như không nghĩ ra là bạn cũng như thù sẽ nhìn cuộc rút quân nhanh chóng của Mỹ như là một thực tế đúng đắn. Nhưng hai ông đã quá bó buộc với ý nghĩ là cuộc dàn xếp sẽ phải theo điều kiện của Mỹ cho đến độ khó chấp nhận điều có thể xảy ra là sự kết thúc cuộc chiến ở Việt Nam, dưới bất cứ điều kiện nào, sẽ được xem như là một điều lợi quan trọng hơn cho quốc gia. Vào tháng Chạp [1971], Nixon than với Moscow rằng Nga Sô đã không thúc đẩy Hà Nội đi đến kết thúc thương thuyết. Ông tự cho là ông đang sẵn sàng leo thang hành động quân sự nếu Hà Nội có ý định “dựa vào giải pháp quân sự.” Để tạo thế lực cho lời cảnh cáo của ông, Nixon ra lệnh dội bom trở lại các mục tiêu quân sự của MBVN trong năm ngày để trả đũa tấn công các máy bay trinh sát không vũ khí và pháo kích vào Sài Gòn hôm 19 tháng Chạp. Hôm mùng 2 tháng Giêng [1972], trong cuộc phỏng vấn truyền hình với Dan Rather của đài CBS, Nixon nhấn mạnh là lần dội bom cuối cùng đã có hiệu quả ra sao. Mười một ngày sau đó, ông tuyên bố sẽ rút thêm 70,000 quân nội trong ba tháng tới và đến ngày mùng 1 tháng Năm, số quân bộ binh của Mỹ ở Việt Nam sẽ xuống còn 69,000 người. Số quân lính Mỹ tử thương trong tháng Giêng là số thấp nhất trong sáu năm qua, và vào ngày 7 tháng Giêng, các hãng thông tấn đều loan tin rằng lần đầu tiên trong bảy năm qua, không có một lính Mỹ nào chết trận hôm đó. Trước công chúng, Nixon tả sự thành công của Chương Trình Việt Nam Hoá đã cho phép ông rút quân Mỹ về nước. Nhưng sau lưng, ông và Kissinger sợ rằng một cuộc tổng tấn công của MBVN vào tháng Hai trong lúc hai ông đi Trung Quốc có thể “tạo nên một cuộc siêu khủng hoảng” bằng cách cắt đôi MNVN. Điều này sẽ làm mất mặt tổng thống và giới lãnh đạo Trung Quốc. Số quân MBVN đưa vào MNVN đạt đến điểm cao nhất trong bốn năm có vẻ như là điềm báo trước cho một cuộc tấn công lớn. Nixon nghĩ cần phải đối phó với đe dọa càng ngày càng lớn mạnh này. Ông nói nó “có thể làm mang tiếng Chương Trình Việt Nam Hoá, nguy hại đến TT Thiệu … và làm suy yếu cương vị của Mỹ ở trong nước và trước mặt Bắc Kinh, tôi không tin là tôi sẽ để cho họ đánh mình lòi cứt ra.” Giải pháp duy nhất mà Nixon thấy là dùng không lực và ép Sài Gòn gia tăng sức mạnh quân lực. Nixon bày tỏ cảm tưởng khẩn cấp về mối hiểm họa sắp xảy ra trong lời bàn với Ủy Ban An Ninh Quốc Gia “Tôi sẽ không chấp nhận bất cứ một thất bại nào gây ra bởi sự thiếu thốn của ủng hộ Mỹ hay bởi những giới hạn của sự lãnh đạo hay sự dứt khoát của chúng ta. Chúng ta phải làm tất cả những gì chúng ta có thể để trợ giúp MNVN và để bảo đảm là họ có phương tiện và lòng quyết tâm để chống trỏi với thử thách của Hà Nội trong năm nay.” Nixon chối khi Rather hỏi có phải những hành động của ông về Việt Nam và sự sắp xếp thời gian cho những cuộc Họp Thượng Đỉnh sắp đến đều do động lực chính trị. Nixon trấn an “những quyết định đó không hề liên quan đến chính trị.” Như vậy ông cũng không nghĩ là TT Johnson có mục đích chính trị khi tuyên bố ngừng dội bom MBVN vào hôm 31 tháng Mười năm 1968 [vài hôm trước bầu cử tổng thống] làm Nixon tự hỏi tụi Dân Chủ cố tình làm thế để đánh bại mình? Nhật ký của Haldeman và những bức thư của Nixon chứng tỏ rằng chính sách ngoại giao có liên quan chặt chẽ với chính trị trong năm bầu cử. Haldeman ghi lại rằng Nixon hằng ngày nhắc nhở Kissinger “đến những khó khăn của Nixon về Việt Nam.” Nixon quyết định tuyên bố rút thêm quân và tiếp theo sau đó vào cuối tháng, ông tiết lộ những cuộc hội đàm bí mật ở Ba Lê giữa Kissinger và người của MBVN mà ông có ý định đổ tội cho họ làm thương thuyết bế tắc. Haldeman viết “Nixon đoán lần này sẽ là một thành công quan trọng về vấn đề Việt Nam. Đòn tuyên bố thứ nhất của ông sẽ làm lòi ra những đứa phản chiến, và đòn bật mí thứ nhì sẽ chặt đứt hết tụi nó.” Vì không hứa hẹn là ông sẽ đem hết lính Mỹ khỏi Việt Nam, trừ khi tất cả tù binh Mỹ được thả về nước, Nixon hy vọng sẽ làm im tiếng những người chống chiến tranh bằng cách bãi bỏ trưng dụng những tân binh sang Đông Nam Á. Trong khi khoảng 8,000 tân binh được gửi sang Việt Nam mỗi tháng trong năm 1970, số này giảm xuống giữa 2,500 và 5,800 cho đến tháng Chín năm 1971, với 1,200 vào tháng Mười Một, và chỉ có 500 người vào tháng Chạp. Trong sáu tháng sau đó, chỉ có giữa 400 và 700 sẽ bị trưng dụng mỗi tháng, từ đó trở đi, con số này có thể xuống còn 300 tân binh. Tuy nhiên, mối nguy hiểm chính trị vẫn là chiến tranh Việt Nam. Kissinger nói với Nixon “thảo luận về Việt Nam không đem phần thắng về mình.” Nixon trả lời “tôi biết điều đó, dân Mỹ muốn mình rút khỏi [cuộc chiến].” Ông hy vọng sẽ nhận được sự ủng hộ của dân chúng cho chính sách chấm dứt chiến tranh của ông với bài diễn văn được truyền hình cho cả nước hôm 25 tháng Giêng. Nixon nóng lòng muốn nói với dân chúng trước khi cuộc tổng tấn công của MBVN đã được dự đoán sẽ xảy ra. Nếu không, bài diễn văn của ông có thể được xem như là một phản ứng cho thấy sự yếu ớt và một nhu cầu giảng hòa cần kíp của Mỹ. Bài diễn văn ngắn gọn trách Hà Nội không tuân theo những điều kiện rộng rãi được đưa ra trong lúc Kissinger hội đàm bí mật ở Ba Lê. Nixon kể là Kissinger đã đi gặp đại diện của MBVN mười hai lần nhưng những cuộc đàm phán đều bị MBVN phá hỏng vì họ cứ nhất định đòi lật đổ chính phủ TT Thiệu. Ông cho rằng những đề nghị cho hòa bình của ông vẫn còn thương lượng được và thỉnh cầu dân Hoa Kỳ đoàn kết sau lưng chính phủ trong công cuộc theo đuổi hòa bình. Ông nói “Chúng ta hãy đoàn kết ngay bây giờ, đoàn kết trong việc đi tìm hòa bình - một hòa bình công bằng cho cả hai bên - một hòa bình dài lâu.” Nixon đồng thời viết thư cho Brezhnev yêu cầu ép MBVN vào một thỏa hiệp mà nó sẽ có ích cho quyền lợi của Sô Viết cũng như của Mỹ. Nếu không, Nixon cảnh cáo, chiến tranh sẽ gia tăng và có thể làm “tình trạng quốc tế thêm rắm rối.” Nixon hy vọng mỏng manh là sẽ có một phản ứng ích cực từ Hà Nội hay Moscow. Mục tiêu chính của bài diễn văn là cử tri đoàn Mỹ. Nhưng Nixon lưu tâm muốn bảo đảm với báo chí và dân chúng rằng bài diễn văn không phải là một phần của tranh cử tổng thống. Ông hỏi Kissinger cách trả lời những lời buộc tội là ông làm vậy “để làm mất mặt bọn dân chủ chăng?” Kissinger đề nghị nên giải thích là sự hiểu lầm của dân chúng đối với những hành động của chính phủ đã lên đến độ quá cao đến nỗi tổng thống cần phải làm sáng tỏ vấn đề bằng cách trình bày cho dân chúng biết là họ đã cố gắng hết sức chấm dứt chiến tranh. Trong thâm tâm, họ hầu như không có hy vọng gì sau lời kêu gọi của Nixon, nhưng họ làm như vậy vì phong trào chống chiến tranh ở trong nước đã không cho họ một chọn lựa nào khác. Kissinger nói Nixon “Cái điều xui xẻo là nếu nhiệm kỳ tổng thống kéo dài sáu năm thì mình có thể chấm dứt chiến tranh với một trăm ngàn quân.” Nixon trả lời “nhưng mình không làm được.” Bạch ốc hy vọng là bài diễn văn sẽ là một cú quan hệ dân chúng thành công. Nhưng khi hai tờ báo New York Times và Washington Post đăng phản ứng của dân chúng đối với bài diễn văn là “lẫn lộn,” Nixon cho rằng họ đã không thắng nổi tình thế. Hành động tiếp sau đó là họ cần một chiến dịch quan hệ dân chúng hữu hiệu để đánh bại báo chí tiêu cực không ngừng chỉ trích sự thất bại chấm dứt chiến tranh của chính phủ. Tại một buổi tường trình cho các nhà lãnh đạo Đảng Cộng Hòa trong Quốc Hội, Nixon, Rogers, Kissinger tố cáo MBVN là “sư tổ về tuyên bố không rõ ràng” đang đánh lừa đối thủ chính trị của Nixon. Nixon yêu cầu các nghị sĩ và dân biểu “lên tiếng và chống trả.” Barry Goldwater bảo các đồng nghiệp trong Quốc Hội là “họ nên nghe lời đề nghị của Nixon, còn đối với tụi bồ câu Dân Chủ, mình sẽ nhét vào họng và vào cái lỗ khác cho tới khi nó gặp nhau ở đâu đó trong người.” Dùng trở lại những phương pháp đã đưa ông đến thành công trong quá khứ, Nixon bây giờ yêu cầu mọi người trong Bạch Ốc kết án Đảng Dân Chủ là “đảng đầu hàng,” một đảng muốn “MNVN bị nhuộm đỏ.” Ông bảo Haldeman và Colson “chúng ta nên dẹp lịch sự qua một bên và tấn công. Điều rất quan trọng là phải giữ phản công ồ ạt khi họ phê bình đề nghị của chúng ta.” Họ phải được diễn tả là “cố tình trợ giúp và trấn an kẻ thù…họ muốn Hoa Kỳ đầu hàng.” Nixon tức giận khi tờ Washington Post đăng một bài tiểu luận chê bài diễn văn của ông là “trò đánh tráo cũ kỹ.” Ông ra lệnh cho Ziegler xoá tên các phóng viên của tờ báo trong danh sách những người tháp tùng tổng thống đi Trung Quốc vào tháng Hai. Ông nói “tụi nó cố tình chơi đểu mình thì mình cũng sẽ phải chơi lại.” Kissinger tin rằng cương vị cứng rắn của Nixon về Việt Nam đang có một tác động trên Hà Nội. Hôm 14 tháng Hai, khi Walters nhắn tin từ Ba Lê là người của MBVN muốn có một buổi họp ăn trưa với Kissinger vào hôm 11 tháng Ba, Kissinger “rất mừng rỡ." Lời mời ăn bữa cơm chưa từng có và sự hứa hẹn có mặt của cả Xuân Thủy và Lê Đức Thọ thuyết phục Kissinger là sẽ không có cãi nhau và điều này có thể là màn đầu cho thoả thuận hòa bình. Ông quả quyết là sự gia tăng không lực của Mỹ và triển vọng tái trúng cử của tổng thống đã buộc Hà Nội vào một cuộc dàn xếp. Tương tự, ông cũng tin là việc chính phủ từ chối bỏ rơi Việt Nam đã thuyết phục chính phủ Trung Quốc và Sô Viết mời Nixon đến thủ đô của họ. Ông viết sau này “những hội nghị Thượng Đỉnh đã có thể không bao giờ xảy ra nếu chúng ta đơn giản sụp đổ ở Việt Nam.” Những dự đoán của Kissinger về cuộc tổng tấn công của MBVN, về Hà Nội muốn dàn xếp, và về tác dụng của chính sách của chính phủ Mỹ ở Việt Nam trên Moscow và Bắc Kinh đều là những mơ mộng hão huyền. Hà Nội có mọi ý định đánh những cú đòn quân sự ở MNVN vào mùa xuân 1972 và vẫn khăng khăng đòi hỏi chấm dứt chính phủ TT Thiệu của họ. Hơn nữa, cả Trung Quốc lẫn Liên Xô đều không chịu chấp nhận cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ vì nước này vẫn tiếp tục tham gia chiến tranh Việt Nam. Chính khả năng của một siêu cường quốc Mỹ mới là điều làm khác biệt ở đây. Với việc rút quân đơn phương của quân đội Mỹ cộng với nghi vấn về sự đáng tin cậy của quân lực MNVN, người Mỹ thua ở Việt Nam dường như là một kết cục không thể tránh được. Tuy nhiên, khả năng của Mỹ để thiêu hủy một kẻ thù quan trọng là mối đe dọa cũng như là một điều có ích cho sự cạnh tranh giữa hai đối thủ Moscow và Bắc Kinh. Sự hòa hoãn với hai quốc gia này không phải dựa trên bất cứ gì người Mỹ đã làm ở Việt Nam, nó dựa trên những lợi ích mà cả hai đều nhận ra khi có Hoa Kỳ như là một thứ đồng minh hoặc ít ra, không phải là một kẻ thù trong cuộc đấu tranh chống lẫn nhau.
|