Chương Mười
Con Đường Đến Hoà Hoãn

  Đối với Nixon và Kissinger, Việt Nam vẫn là một nỗi bực mình lớn nhất. Cuộc chiến đã trở thành một thảm hại quốc gia, một cái ung nhọt thường xuyên, và là một sức mạnh chia rẽ trong đời sống Hoa Kỳ. Vào cuối tháng Ba năm 1971, sau khi tòa án quân sự kết án và xử chung thân khổ sai Trung úy William Calley về tội giết người trong vụ thảm sát Mỹ Lai, Nixon quyết định nhốt Calley vào trại lính trong khi ông ta kháng án. Quyết định của tòa án và Nixon gây nhiều trách móc và làm gia tăng cuộc tranh luận vô thương tiếc mà Bạch Ốc thật tình muốn quên. (Vào tháng Tư năm 1974, hình phạt cho Calley được giảm xuống còn mười năm, và sau đó vào tháng Mười Một, Calley được tha có điều kiện bởi tư lệnh lục quân.)

  Nixon nghĩ là ông có thể làm ngơ các sinh viên biểu tình ở nơi xa xôi, nhưng ông không thể có thái độ bình thường như vậy đối với các dân biểu, thượng nghị sĩ trong Quốc Hội, nhất là các thượng nghị sĩ khi họ càng ngày càng trở nên mạnh bạo hơn để ép chính phủ rút quân khỏi Việt Nam. Trong 17 cuộc bầu phiếu ở Hạ Viện và Thượng Viện giữa tháng Tư và Tháng Bẩy, một số dân biểu và thượng nghị sĩ muốn đặt thời hạn nhất định cho rút quân. Nixon và Kissinger chống lại những quyết nghị của Quốc Hội vì họ sợ bị kết tội là chính phủ đóng một vai trò quan trọng để mất MNVN nhiều hơn là họ thấy những quyết nghị này làm nguy hại đến sự sống còn của MNVN.

  Vào mùa Xuân năm 1971, sức ép trong nước về rút quân tạo nên một cảm giác khẩn cấp cao độ trong chính phủ để chấm dứt chiến tranh. Vào cuối tháng Tư, Kissinger nói với Nixon khi ông đến Trung Quốc “tôi sẽ nói với bộ trưởng ngoại giao [Trung Quốc]… chúng ta phải dàn xếp. Đó là lý do tại sao chúng tôi muốn gặp ông một cách bí mật… để chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.” Nixon muốn Kissinger nói cho Chu Ân Lai rằng “cuộc chiến này hầu hết phải được dàn xếp trước khi tôi [Nixon] sang.”

  Trong tuần lễ sau đó, Nixon bảo Haldeman rằng nhân ngày kỷ niệm năm thứ nhì rút quân vào tháng Sáu, họ phải “có tiến triển ở Việt Nam… Chúng ta phải làm gì dứt khoát và rõ ràng vì lý do quốc nội.” Những điều kiện đưa ra từ Quốc Hội buộc họ phải chứng tỏ có bước tiến xa hơn. Tuy thế, Nixon vẫn còn nhất định làm những gì có thể được để ủng hộ Sài Gòn. Haldeman nói “Như chúng ta đã biết, Nixon là người cứng đầu chưa từng thấy khi nói về bỏ rơi đúng cách.”

  Hoàn cảnh sáng sủa hơn một chút vào tháng Năm. MBVN xin Kissinger trở lại Ba Lê để đàm phán lại vào cuối tháng. Hơn nữa, TT Thiệu báo tin cho Đại Sứ Bunker ở Sài Gòn biết là QLVNCH sắp sửa sẵn sàng chiến đấu không cần sự trợ giúp của quân đội Mỹ. Khi Kissinger chuẩn bị đi Ba Lê, Nixon hy vọng có một đột phá trong thương thuyết mà nó sẽ trút gánh nặng chiến tranh cho họ. Khi Kissinger tường trình nhà báo Marquis Childs nói “tụi Dân Chủ trông bệnh hoạn quá; Việt Nam lúc nào cũng là đầu đề câu chuyện của họ,” Nixon bảo Kissinger “Nói với Marquis là chuyện Việt Nam xong rồi…Chuyện chính bây giờ là những gì sẽ xảy ra cho Xô Viết, Trung Quốc, Trung Đông, và kinh tế của nước Mỹ.”

  Nhưng những lời tuyên bố đầy hy vọng của Nixon và Kissinger đều là những mơ mộng hão huyền. Với dưới 50 phần trăm dân chúng ủng hộ tổng thống, 61 phần trăm cho sự tham chiến vào việt Nam là một lỗi lầm và muốn rút quân về trước tháng Bẩy, 1972, Kissinger hăng hái trở lại Ba Lê để mong một dấu hiệu dàn xếp nào đó. Nixon bảo Kissinger đưa ra một “đề nghị cuối cùng” cộng với lời cảnh cáo là “thời gian thương thuyết gần hết.”

  Kissinger mang chương trình bẩy điểm đến Ba Lê. Chương trình này hứa hẹn sẽ đặt ngày rút quân Mỹ toàn bộ để đổi lấy MBVN không phải rút quân nhưng họ phải hứa chấm đút đưa quân vào MNVN, Cam Bốt, và Lào. Chương trình này khác xa với đòi hỏi trước đó về cam kết song phương để chấm dứt giao tranh giữa quân Mỹ và MBVN. Nó phản ảnh sự ước đoán của chính phủ rằng giảm thiểu quân lực Mỹ cũng tước đi cái khả năng của họ để bắt buộc Hà Nội rút quân khỏi MNVN. Tương lai chính trị của MNVN, mà Hà Nội từ trước đến nay nhất quyết không muốn có chính quyền TT Thiệu, sẽ để cho người MNVN quyết định qua cuộc bầu cử toàn quốc vào mùa thu.

  Trở lại Ba Lê, Kissinger nhận xét “một lần nữa, hai phái đoàn Mỹ và Việt Nam lại đối diện với nhau trong một phòng khách bẩn thỉu, chia cách bởi một tấm thảm hẹp và một hố đầy vô cảm;” đáng lẽ Kissinger nên nói thêm là phần chính từ bên phía của ông. MBVN vẫn bất di bất dịch tin tưởng là họ có thể kéo dai dẳng hơn người Mỹ và sẽ thôn tính MNVN.

  Thái độ không suy suyển của Hà Nội làm Nixon tức giận. Trong một cuộc hội đàm với Kissinger và Haldeman ngày mùng 2 tháng Sáu, ông đập bàn và dọa sẽ có những hậu quả khủng khiếp nếu MBVN không nhanh chóng chấm dứt chiến tranh. Nixon còn nói rằng nếu ông làm tổng thống trong những năm 1966, 1967, ông đã dùng đủ nhân lực để chiến thắng.

  Và nếu cần, ông cũng sẽ làm bây giờ, hoặc ông chỉ nói xuông trong lúc giận dữ. Ông hét trong khi đập bàn “Nếu chúng ta không có bước tiến nào từ xô Viết, từ Trung Quốc, nếu chúng ta không có cặp đôi này thì chúng ta sẽ không thể có cái gì ở Việt Nam, tình trạng đang trở nên thậm tệ - khoảng tháng Mười Một năm nay, tôi sẽ xem xét kỹ càng lại lá bài…Tôi không nói về những phi vụ dội bom [đường mòn HCM]…Chúng ta sẽ phá xập đê điều, nhà máy điện, Hải Phòng, chúng ta sẽ san bằng cả nước chó má đó! Đừng làm tôi hét lên.” Kissinger thêm vào “Tôi nghĩ dân chúng Mỹ sẽ hiểu điều đó.” Nixon tiếp tục “Điểm quan trọng ở đây là chúng ta không thể vừa rút vừa than vãn, và chúng ta không rút vì thua.”

  Trong khi Xuân Thủy công khai kêu gọi Quốc Hội Mỹ đặt ra thời hạn chót cho rút quân, Kissinger nói với Nixon ngày mùng 8 tháng Sáu “tôi sắp sửa đi gặp Dobrynin và sẽ hỏi cho ra nhẽ. Tôi sẽ bảo ông ta nói với những thằng bạn da vàng tí hon hãy chấm dứt trò chơi. Chúng tôi không để bị thua một cách êm thắm đâu.” Kissinger nói chuyện với Dobrynin hôm mùng 3, 7, và 21 tháng Sáu nhưng không đả động gì đến Việt Nam. Kissinger đang che dấu những đánh cuộc của ông ta – ông hy vọng những buổi họp thêm ở Ba Lê vào cuối tháng có thể đem lại kết quả quan trọng, nhưng nếu không, ông cũng sẽ có tiếng với Nixon vì ủng hộ ông ta muốn tiêu diệt Hà Nội trong những lúc nóng tính.

  Ngày 13 tháng Sáu, một vấn đề mới bùng nổ về Việt Nam. Tờ New York Times khởi đầu đăng những đoạn của “Hồ Sơ Ngũ Giác Đài,” một bộ sử liệu nhiều cuốn về Chiến Tranh Việt Nam được soạn thảo theo lời yêu cầu của Robert McNamara. Việc đăng tải những tài liệu mật làm Nixon điên tiết: ông ta và Kissinger đều đồng ý đây là “phản quốc” vì “nó phục vụ kẻ thù.” Họ nghĩ là việc này sẽ làm tổn thương thêm đến ủng hộ quốc nội vì nó tiết lộ những hành động dấu kín dưới thời Kennedy và Johnson đã đưa đẩy cả nước vào cuộc chinh chiến. Hơn nữa, họ sợ là những bàn luận và bất đồng thêm nữa sẽ làm suy yếu khả năng của Nixon để ép Hà Nội vào một dàn xếp danh dự.

  Kissinger viết trong hồi ký vào năm 1979 “hiện giờ tôi vẫn không tin là việc đăng Hồ Sơ Ngũ Giác Đài đã làm thay đổi quyết định sau cùng của Hà Nội không muốn kết thúc dàn xếp vào năm 1971. Cả người ăn cắp tài liệu lẫn chính phủ đều không biết điều này vào lúc đó.” Đây là lời bào chữa không thuyết phục. Hà Nội không cần những bài đăng trên báo để thuyết phục họ rằng công chúng, giới truyền thông, và Quốc Hội đã chán ngấy với chiến tranh và muốn rút khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt hầu hết dưới mọi điều kiện nào.

  Vào cuối tháng Sáu năm 1971, khi Kissinger sửa soạn trở lại Ba Lê để họp với MBVN một lần nữa, Nixon nghi ngờ là sẽ không có kết quả gì. Nhưng không phải vì vụ đăng Hồ Sơ Ngũ Giác Đài trên nhật báo New York Times mà Toà Tối Cao Pháp Viện đã phán quyết hôm 30 tháng Sáu là họ có quyền tiếp tục đăng dựa theo Tu Chính Thứ Nhất bảo đảm tự do báo chí.

  Chính ra là chống đối chiến tranh đã được chứng tỏ thật rõ ràng bằng biểu quyết tu án Mansfield của một nghị luật Thượng Viện hôm 22 tháng Sáu. Nghị luật này đòi hỏi bắt buộc rút hết quân Mỹ ở Đông Dương nội trong chín tháng sau khi được ký thành luật và chấm dứt mọi hoạt động quân sự sau khi tất cả các tù binh Mỹ được thả. Số phiếu cho tu án là 57 thuận và 42 chống, nó tạo nên tình trạng “thật khó khăn” cho Bạch Ốc nhưng là một chiến thắng cho bên phản chiến.

  Tu án này làm bất bình cựu Tổng Thống Lyndon B. Johnson. Theo lời tường trình của Haldeman cho Nixon, LBJ nói “tôi sẽ làm bất cứ gì tôi có thể làm được để đánh bại bọn chó đẻ thối tha bẩn thỉu này trong năm [bầu cử] 1972.” LBJ gọi Clark Clifford, bộ trưởng quốc phòng dưới thời ông và sau này trở nên chống chiến tranh là “thằng khốn nạn cà chớn.” Nixon than phiền việc nói chuyện với các nghị viên như “điều khổ sở nhất mà tôi phải làm.” Họ là “những người yếu hèn và vô tích sự.” Nhưng ông từ chối “không để bị căng thẳng vì điều này.” Trong một cuộc hội đàm với Mansfield, ông bảo chính phủ đang có thương lượng ngầm [với MBVN] và “hành động của Thượng Viện có thể làm hỏng hết cả.” Ông cảnh cáo Mansfield rằng sự thất bại của thương thuyết sẽ buộc ông dội bom “chết mẹ chúng nó hết.”

  Tu án Mansfield làm tiêu tan mọi hy vọng của Nixon và Kissinger về một phản ứng tích cực đến từ Hà Nội. Haldeman để ý là Kissinger “rất khó chịu vì tu án sẽ có nghĩa là ông ta chẳng còn hy vọng thương thuyết gì ở Ba Lê.” Kissinger nói về tu án “tôi chưa bao giờ thấy một thành tích vô trách nhiệm vì muốn đạt thắng lợi chính trị ngắn hạn để chiều lòng dân như vậy.” Vì bây giờ nó làm cho MBVN suy nghĩ lại, Kissinger than phiền với Thượng Nghị Sĩ Robert Dole (Đảng Cộng Hòa, tiểu bang Kansas) “đây không phải lần đầu mà chúng tôi bị đặt dưới khó khăn thêm. Họ [những thượng nghị sĩ đảng Dân Chủ] là những người đang kéo dài chiến tranh.”

  Nixon bảo Haldeman “Henry nó nản chí vì những gì đã xảy ra, tôi phải an ủi hắn là mọi việc sẽ vào đâu vào đó. Tụi trẻ con [thượng nghị sĩ] nó hoàn toàn không nghĩ gì về an ninh quốc gia. Mình không thể nào làm gì được về vấn đề này. Họ sẽ phải trả giá.”

  Kissinger nhận ra một khuyết điểm về giữ bí mật hoà đàm Ba Lê. Nếu ông đã có thể tiết lộ những đề nghị hòa bình của chính phủ thì có lẽ nó đã hạn chế Thượng Viện, tạo nên ủng hộ quốc nội mạnh hơn cho tổng thống trong lúc thương thuyết, và làm MBVN thẳng thắn hơn. Nhưng ông ta không chắc; và sự giữ bí mật, gồm chuyến đi Trung Hoa sắp đến, hiện giờ là một phần quan trọng trong cách thức làm việc của Nixon và Kissinger trong hơn hai năm qua mà có lẽ họ không thể bỏ được.

  Bây giờ Nixon đang nghĩ hủy bỏ chuyến đi Ba Lê của Kissinger và “giật trôi tất cả mọi thỏa thuận.” Ông bảo Kissinger “Đến đây là hết; [Mansfield] phải dàn xếp.” Nếu không, Nixon sẽ chấm dứt thương thuyết và sẽ công khai đổ lỗi trên Mansfield và 56 thượng nghị sĩ khác đã bầu cho tu án. Nixon tuyên bố ông đã có một chương trình rời khỏi Việt Nam nếu thương thuyết thất bại. Ông sẽ dựa vào “một cuộc dội bom toàn diện trên MBVN để dẹp khả năng tấn công của họ.” Vì những cuộc không tập trên MBVN giữa những năm 1965 và 1968 đã chỉ có hiệu quả giới hạn trên khả năng tấn công của Hà Nội, khó mà hiểu được suy luận của Nixon. Chắc chắn là ông ta đang nghĩ về những mục tiêu như đê Sông Hồng và những cuộc dội bom lớn lao trên Hà Nội và Hải Phòng. Nhưng điều này sẽ đem đến rối loạn trong nước Mỹ mà không ai mong muốn tương tự như sau khi dàn quân sang Cam Bốt.

  Nixon và Kissinger thở phào nhẹ nhõm khi biết ra là Hà Nội tỏ ra mềm dẻo hơn trong các cuộc hội thảo mới nhất giữa Kissinger, Lê đức Thọ, và Xuân Thủy ở Ba Lê vào ngày 26 tháng Sáu. Kissinger nhắn cho Nixon qua Haig rằng “đây là một buổi họp đứng đắn nhất họ từng có.” Nixon muốn biết có phải MBVN thay đổi vì ảnh hưởng bởi “hành động của Thượng Viện.” Haig không nghĩ như vậy “tất cả đều chú trọng vào thương thuyết – không tuyên truyền. Bởi vậy Kissinger mới ngạc nhiên.” Mặc dù “Kissinger có phấn khởi về chiều hướng, ông ta vẫn chưa chắc là sẽ đi về hướng nào.”

  Với ý định kéo dài thương thuyết cho đến năm 1972 vì họ nghĩ dân chúng sẽ ép Nixon đi đến hòa giải, Hà Nội tạo ra vẻ bề ngoài là uyển chuyển trong các vụ thương thuyết. Kế của họ thành công. Kissinger khuyên Nixon “Mình không mất mát gì hết khi chờ bây giờ.” Nixon đồng ý và bảo Kissinger “đến lúc chúng ta nhượng bộ…Chúng ta đánh nhau mấy năm nay rồi, chúng ta trải qua vụ Cam Bốt, Lào…Chúng ta hãy đối diện với thực tế. Chúng ta đã làm bất cứ gì đã có thể làm được. Bây giờ hả? Ai mà biết?”

  Trong khi Kissinger chuẩn bị chuyến đi Á Châu vào ngày mùng một tháng Bẩy, ông ta và Nixon đồng ý thảo một phúc đáp cho Hà Nội sau khi Kissinger trở về. Tuy nhiên, hôm đó, Hà Nội cho in trên báo một đề nghị mới được tính toán trước để chiêu dụ dư luận Mỹ. Họ đề nghị sẽ trao đổi tù binh Hoa Kỳ với sự rút hết quân lực Mỹ và kêu gọi ngưng bắn để chấm dứt chiến tranh. Biết trước là đề nghị của Hà nội sẽ có một phản ứng tích cực trong nước Mỹ, Bạch Ốc tuyên bố chương trình của MBVN có cả điểm tốt lẫn xấu, nhưng Hà Nội làm trội hơn vì họ “thương thuyết trong các diễn đàn đã được thiết lập sẵn [báo chí và dư luận].”

  Sau lưng, Nixon và Kissinger rất tức giận vì không thể phơi bầy được những mâu thuẫn giữa những lời tuyên bố của Hà Nội trên báo chí và nơi đàm phán. Sự giả dạng mềm dẻo thay vì nhất định đòi hỏi quân Mỹ rút lui vô điều kiện được che dấu khỏi con mắt quần chúng Mỹ. Nixon đề nghị hủy bỏ buổi họp mà Bruce đã giàn xếp trước ở Ba Lê nhưng Kissinger nghĩ là nên tham dự và “cảnh cáo là nếu họ tiết lộ lần tới thì sẽ không có đi lại nữa.” Nixon bảo Kissinger khuyến cáo Trung Quốc là ông ta sẽ bảo vệ quyền lợi của Mỹ khi thương lượng với MBVN và trừ khi có một dàn xếp, ông ta sẽ phải dùng đến những biện pháp khắt khe. Bruce được chỉ thị cho MBVN một phản ứng nghiêm khắc nhưng không hoàn toàn bãi bỏ những đề nghị của họ.

  Khi Kissinger ghé qua Việt Nam, Ấn Độ, và Pakistan trên đường đến Trung Quốc, Nixon dặn đi dặn lại “phải chứng tỏ có vị trí cứng rắn ở Ba Lê và đưa tất cả vấn đề lên trên đầu.” Đặc điểm của lối tiếp cận với thương thuyết của Nixon là “mơ hồ.” Kissinger viết về sau này “ông đổ lên đầu tôi với những chỉ thị nghe thì rất là ghê gớm nhưng không phải lúc nào cũng phù hợp với chương trình, và một số chỉ thị thì không thể nào thi hành được. Lý do có thể là ông không thoải mái với tiến trình thỏa hiệp hay sợ bị từ chối, ngay cả trong diễn đàn ngoại giao.”

  Trên đường trở về từ Trung Quốc, Kissinger ghé qua Ba Lê để bí mật gặp phái đoàn MBVN hôm 12 tháng Bảy. Màn đầu của buổi thương thuyết giống như thường lệ. Với hy vọng có sự quan hệ tốt đẹp hơn với Trung Quốc, Nixon gan dạ thúc dục Kissinger dùng những danh từ tượng hình và sắt máu để đòi hỏi một dàn xếp sớm cho chiến tranh. Vì tin rằng chỉ có trao đổi kín đáo mới đem đến thỏa thuận nhanh chóng, Kissinger chuồn ra tư gia của đại sứ bằng cửa hậu, cúi rạp xuống nệm xe của tướngVernon Walters và đội nón để cải trang. Họ đến nhà của phái đoàn MBVN để bàn luận thêm trong phòng khách được trang hoàng với chiếc bàn hình chữ nhật phủ tấm vải xanh lá cây.

  Trong cuộc trao đổi, ưu điểm dường như nhiều hơn khuyết điểm. Kissinger nói với Nixon MBVN đang nóng lòng để “thương thuyết nghiêm chỉnh. Họ nhấn mạnh nhiều lần, hầu như với giọng bùi ngùi rằng họ muốn dàn xếp chiến tranh.” Họ trông có vẻ sẵn sàng đồng ý về ngưng chiến, trao trả tù binh, định ngày rút quân, và trung lập hóa Lào và Cam Bốt.

  Điểm còn dây dưa ở đây là Mỹ không chịu bỏ rơi chính phủ TT Thiệu. Nhưng ngay cả trong lúc này, MBVN đã tỏ một chút linh động. Họ cho sự hiện diện liên tục của TT Thiệu ở Sài gòn làm cuộc dàn xếp “khó khăn” thay vì “không thể có” như họ đã từng tuyên bố. Kissinger nhận thấy có một hy vọng khá hơn là MBVN sẽ thay đổi cương vị trên vấn đề chính trị và họ sẽ làm trước kỳ họp tới vào hôm 26 tháng Bảy.

  Buổi họp hôm 26 lại là một sự thất vọng nữa. Trong khi MBVN “tiến xa về phía lập trường của chúng ta trên mọi điểm phi chính trị, họ cứng đầu bám vào đòi hỏi là chúng ta phải lật đổ TT Thiệu, nếu cần, bằng một phương tiện âm mưu nào đó thay vì bằng quá trình bầu cử được định sẵn vào mùa thu. Như Kissinger suy diễn, sự kiểm soát của MNVN, mà vì nó MBVN đã hy sinh rất nhiều, sẽ không có họ nếu TT Thiệu, với sự hậu thuẫn của Việt Nam Hoá, còn tại chức. MBVN hứa sẽ nghiên cứu thêm nữa cương vị của Mỹ trong vòng ba hay bốn tuần tới, nhưng Kissinger không chắc là họ có “trí tưởng tượng và lòng tự tin để đi theo con đường của chúng ta.” Hơn nữa, họ cũng nói rõ là quan hệ mới của Hoa Kỳ với Trung Quốc sẽ không có hiệu quả quan trọng cho cuộc hòa đàm song phương. Kissinger nói cho Nixon điều chắc chắn duy nhất là họ sẽ phải trả lời dứt khoát vào buổi họp kỳ tới vào hôm 16 tháng Tám.

  Trong khi chờ đợi cho buổi họp đó, Nixon và Kissinger kín tiếng về triển vọng hoà bình. Nhưng trong buổi họp báo hôm mùng 4 tháng Tám, Nixon tuyên bố là những người chỉ trích chính sách của ông rồi sẽ thấy nước Mỹ đã và đang “đi thêm dặm đường để thương thuyết trong những phương tiện được thiết lập sẵn.” Ông bảo đảm với báo chí là nước Mỹ không bỏ qua một cơ hội nào để đạt đến dàn xếp.

  Những lời công bố của Hà Nội “mắng” Bắc Kinh vì đi đêm với Mỹ gây nghi vấn về sự có thể có một thông qua. Việc MBVN đang tụ tập quân ở vùng phi quân sự cũng làm phiền Nixon và Kissinger thêm. Mối quan tâm này được chứng tỏ vào buổi họp hôm 16 tháng Tám. Sự vắng mặt của Lê đức Thọ cho thấy là sẽ không dàn xếp được điều gì. Xuân Thủy bắt đầu bằng “một bài rất nặng lời,” than phiền là Mỹ đã leo thang xung đột bằng những cuộc dội bom mới. Kissinger “trả lời họ với một ngôn ngữ cứng rắn ông chưa từng dùng bao giờ, kết tội Xuân Thủy giả dạng dùng buổi họp để dụ ông qua.” Chẳng mấy chốc, họ tiếp tục bế tắc vì vấn đề Mỹ không chịu bỏ rơi TT Thiệu.

  Mặc dù buổi họp không thông, Kissinger đồng ý sẽ gặp lại họ trong một tháng. Ông giải thích cho Nixon quyết định của ông là một cách để tiếp tục duy trì đường dây trong trường hợp họ muốn dàn xếp; và để giữ cho họ khỏi leo thang đánh nhau trong lúc MNVN sửa soạn bầu cử. Ông kết luận “chúng ta không mất gì hết trừ 36 tiếng bực mình cho tôi, và chúng ta cũng không đạt được gì nếu lui ra bây giờ.” Mặc dù Nixon chưa chịu và muốn “cắt đứt liên lạc càng ngày càng vô ích,” Kissinger “cuối cùng cũng thuyết phục được ông” đi theo “tia sáng hy vọng” buộc vào một buổi họp nữa.

  Nói về những buổi hòa đàm ở Ba Lê, Kissinger công nhận là Mỹ “hầu như ở trong hành động đợi chờ.” Nhưng ông tươi cười với sự lạc quan “tôi nghĩ chúng ta đang tiến về một dàn xếp.” Ông tả lại những thời gian với Xuân Thủy là “tuyệt đối độc ác,” ông nói “bàn luận với Xuân Thủy là tuyệt đối phí phạm thì giờ…vì ông ta chẳng đưa ra điều gì.” Kissinger xin Nixon một buổi họp nữa bằng cách hứa là nếu không có gì xảy ra vào tháng Chín, “đó sẽ là lần cuối cùng.” Ông tiên đoán là Hà Nội sẽ dàn xếp vào tháng Mười Một sau bầu cử ở MNVN. “họ không có chỗ nào để đi.” Kissinger cũng gợi ý cho Nixon để ông bí mật đi Hà Nội. Nhưng Nixon không muốn dính dáng gì đến cái mà ông gọi là “ảo ảnh huy hoàng như người chuộng hoà bình của Kissinger.” Nixon không nghĩ là sẽ có kết quả, và chuyến đi sẽ bị lộ, điều đó “sẽ là một tai họa.”

  Tuy nhiên, Nixon đồng ý để Kissinger trở lại Ba Lê vào tháng Chín. Ông ta bị hấp dẫn bởi trường hợp có thể xảy ra là, sau khi loan báo vào tháng mười về buổi họp Thượng Đỉnh với Moscow sắp đến, ông có thể có một tuyên ngôn khải hoàn về hoà bình ở Việt Nam vào tháng Mười Một. Cả hai Nixon và Kissinger đều có sự sống còn cá nhân dựa vào việc chấm dứt chiến tranh. Không những nó thoả mãn hy vọng trong nước và thế giới về hoà bình ở Đông Nam Á mà nó còn được cho là thành công cho cá nhân của họ. Đối với Nixon, điều này có nghĩa là bảo đảm ông trúng cử tổng thống lần nữa, và với Kissinger, đây sẽ được xem là sản phẩm của tài thương thuyết và ngoại giao cá nhân của ông ta. Có quá nhiều nguy cơ cho nước Mỹ, thế giới, và chính họ để từ bỏ hy vọng, dù mỏng manh nhất, là những lần họp thêm có thể chấm dứt một cuộc chiến dài nhất và tệ nhất của Hoa Kỳ.

  MBVN vẫn tiếp tục nhận ra những lý do để kéo dài thương thuyết. Họ hy vọng là, để đổi lại cho việc chấm dứt chiến tranh và trả tù binh Mỹ về nước, chính phủ Mỹ có thể nghĩ đến bỏ rơi TT Thiệu và để Hà Nội chiếm đóng MNVN. Trong khi Kissinger càng đồng ý tiếp tục hòa đàm thì MBVN càng nuôi dưỡng hy vọng chính phủ Mỹ sẽ nhượng bộ về vấn đề chính trị. Vào tháng Tám và Chín, sau khi đối thủ của TT Thiệu bỏ cuộc đua bầu cử tổng thống, Hà Nội nghĩ rằng sự mất mặt của chính phủ Mỹ vì “bầu cử gian lận” sẽ làm Nixon chịu bỏ rơi TT Thiệu hơn.

  Nhưng Nixon và Kissinger vẫn quyết tâm hỗ trợ TT Thiệu. Họ tuyên bố là những diễn biến về bầu cử ở MNVN là chuyện nội bộ mà chính Phủ Mỹ sẽ không xía vào. Kissinger nói với Nixon rằng nếu họ phản TT Thiệu, họ sẽ làm cho MBVN “điều mà chính họ không thể thực hiện được, đó là lật đổ chính phủ MNVN.” Nixon giải thích việc ủng hộ TT Thiệu bằng cách nhấn mạnh rằng bỏ rơi ông ta sẽ gây tai hại không hàn gắn được cho “cả một cơ cấu ổn định ở Á Châu.” Kissinger đồng ý. Nhưng còn phải xét đến sức ép chính trị trong nước Mỹ. Buông rơi TT Thiệu sẽ làm phức tạp thêm những khó khăn của Nixon đối với bên bảo thủ, họ là những người đã bị thất vọng vì sự cởi mở của Nixon với Trung Quốc và Nga Sô.

  Vào tháng Chín, sau khi John Scali, một cựu phóng viên ngoại giao của đài ABC và là tùy viên quan hệ dân chúng của Bạch Ốc, tiếp Đại Sứ Bùi Diễm của MNVN và ông ta tường thuật buổi nói chuyện cho Kissinger. ĐS Diễm vô cùng thất vọng về những tiến triển chính trị ở Sài Gòn và đang suy nghĩ về nước để khuyên TT Thiệu làm cho cuộc bầu cử dân chủ hơn. Scali nói “Tôi nói cho Kissinger “ĐS Việt Nam [ông Bùi Diễm] trông có vẻ rất buồn.” Kissinger nhìn tôi, thở mạnh rồi bỏ đi không nói lời nào.”

  Khi Kissinger gặp Xuân Thủy ở Ba Lê hôm 13 tháng Chín, Lê đức Thọ lại vắng mặt. Nghĩa là bàn luận sẽ không có có kết quả xây dựng gì. Buổi họp kéo dài chỉ hai tiếng, một buổi họp ngắn nhất mà Kissinger từng có với MBVN. Đương nhiên cảm thấy được khuyến kích bởi những lộn xộn mới đây ở Sài gòn về bầu cử hôm mùng 3 tháng Mười sắp đến, Xuân Thủy xổ ra một tràng diễn văn về sự cần thiết thay đổi trong chính phủ MNVN. Thoả thuận duy nhất của hai người là sẽ gặp nhau nếu và khi nào một trong hai bên có điều gì mới để chia xẻ.

  Sự bế tắc này gây ra cuộc đổ lỗi mới trong nước Mỹ. Khi tờ Wahington Star ngày 14 tháng Chín tiết lộ tin từ Ngũ Giác Đài là lính Mỹ sẽ được rút hết khỏi MNVN vào mùa xuân năm tới, Nixon và Kissinger nổi giận. Vì Tướng Creighton Abrams ở Sài Gòn là người bị tình nghi có thể đã tiết lộ tin tức, Nixon và Kissinger định gọi “thằng chó đẻ” về. Nhưng vì như vậy sẽ giống như làm cụt hứng quyết định của Mỹ, Nixon đề nghị “nhờ người phụ tá của Tướng Abrams kềm chế đừng để cho ông say sưa và nói quá nhiều.” Kissinger gọi Tổng Tham Mưu Trưởng, Đô Đốc Moorer để khiển trách ông một cách nặng nề. Kissinger nói “Tổng Thống mới hét trong điện thoại với tôi lần này là lần thứ ba. Không một sĩ quan nào được nói đến chữ rút quân khốn nạn đó.”

  Hôm 18 tháng Chín, Kissinger gửi một bức thư dài về Việt Nam cho Nixon. Ông ta lập đi lập lại điều dư thừa khi cảnh cáo Nixon về việc nhượng bộ MBVN vì nó sẽ gây ra khủng hoảng cho sự tin cậy vào nước Mỹ trên toàn thế giới, những nước bạn cũng như thù sẽ nhìn nước Mỹ chối bỏ trách nhiệm của mình. Kissinger muốn thử dàn xếp có thương lượng một lần nữa. Ông đề nghị với Nixon cho Hà Nội một cuộc bầu cử sáu tháng sau khi ký thoả thuận hòa bình, TT Thiệu sẽ từ chức một tháng trước khi bầu phiếu, và một ủy hội quốc tế sẽ giám sát bầu cử mà mọi phía có quyền tham gia, ngay cả Cộng Sản. Nixon đồng ý với lời đề nghị của Kissinger vào hôm 20 tháng Chín và TT Thiệu cũng đồng ý ba ngày sau đó. Nhưng Hà Nội từ chối. Họ vẫn còn tin rằng những chia rẽ trong nội bộ nước Mỹ sẽ buộc Mỹ rút quân trước khi Nixon phải đối diện với cử tri vào tháng Mười Một năm 1972.

  MBVN từ chối không đi đến thỏa thuận đã không làm Kissinger nản chí. Ông ta thấy một hy vọng mỏng manh trong sự bế tắc này. Vào tháng Tám, ông tả cuộc chiến cho Haldeman như là “một chuyện thật buồn… vì chúng ta đã thắng, và nếu chúng ta chỉ có thêm một mùa khô nữa thì quân MNVN sẽ đánh bại đối thủ [MBVN]” Haldeman ghi lại trong nhật ký “dĩ nhiên, đây là câu mà Kissinger dùng đi dùng lại trong hai năm nay, thật là ngạc nhiên khi câu nói nghe như phá kỷ lục.”

  Nhiều nhà phê bình chính phủ trong Quốc hội và giới báo chí không đồng ý với Nixon và Kissinger khi hai ông từ chối nhanh chóng chấm dứt chiến tranh và mặc kệ số phận của MNVN. Đối với họ, tiếp tục xung đột sẽ làm nhiều tổn thương đến lòng tự tin vào chính quốc gia Mỹ hơn là thiệt hại vì đánh nhau và hy sinh thêm mạng sống của người Mỹ lẫn người Việt Nam một cách vô nghĩa. Các nhà phê bình cũng không tin rằng nhiều người trong nước hay ở ngoại quốc than phiền nước Mỹ đang trốn tránh bổn phận của họ. Những hy sinh về nhân mạng và tiền của của người Mỹ cho Việt Nam đã vượt khỏi mức độ mà bất cứ người biết điều nào đã có thể mong họ cống hiến. Hơn nữa, các nhà phê bình đoán rằng những chính phủ khác sẽ nhìn nước Mỹ đã đến lúc đủ khôn ngoan để chấm dứt chiến tranh thay vì cứ sợ người ta không thể tin cậy được vào mình để chiến đấu chống thảm họa Cộng Sản trong tương lai. Họ muốn chính phủ nghe theo lời khuyên của TNS George Aiken của tiểu bang Vermont “hãy tuyên bố thắng lợi rồi rút về.” Câu nói của Nixon “hòa bình trong danh dự” cũng là câu tương tự được chấp nhận như là một mặt nạ trá hình cho sự thua trận của Hoa Kỳ.

  Thật ra Việt Nam vẫn là một mối quan tâm thường xuyên và nhức nhối, nhưng Nixon và Kissinger không đến nỗi vô vọng là họ có thể ép buộc một dàn xếp trước mùa bầu cử tổng thống vào tháng Mười Một năm 1972. Theo họ, tin lớn nhất là họ đã phá vỡ bế tắc trong việc giao hảo với Trung Quốc và Nga Sô và họ có thể trông cậy vào những thắng lợi quan trọng khác trong năm tới.

  
Chương Chín Mục Lục Chương Mười Một

  

Đôi Bài Trùng Quyền Thế - Robert Dalleck