Chương IX
Chiến Tranh Theo Mùa

  Có hai mùa ở Lào. Mùa mưa và mùa khô. Mùa khô bắt đầu từ cuối tháng 12 đến tháng Tư. Gió nồm và mưa mùa từ tháng Năm đến tháng 11. Thời tiết tạo một hình thái chiến tranh mà đại sứ Sullivan phác họa trong ký ức. Theo Sullivan, mỗi mùa khô, sư đoàn 316 Bắc Việt chuyển quân về phía Tây theo lộ 7, tấn công các tiền đồn Hmong và chiếm lĩnh diện địa. Để tiết giảm tổn thất, Hmong rút lui, phục kích Cộng quân trong khi rút, chờ cho đến khi hệ thống hậu cần của sư đoàn 316 giãn dài và Cộng quân bị cô lập thành những nhóm nhỏ, dễ bị tiêu diệt trong các cuộc hành quân trực thăng vận. Một khi mùa mưa bắt đầu và tàn quân sư đoàn 316 rút lui trên đường 7, trực thăng vận chuyển những đơn vị lớn làm nút chặn dọc đường. Những lực lượng này phục kích và dụ Cộng quân ra những quãng trống làm mồi cho các cuộc không kích.

  Quan điểm Sullivan khá chính xác, dù sư đoàn 316 không thực hiện tất cả trận chiến, Cộng quân cũng không hẳn lệ thuộc hoàn toàn vào đường 7 hay luôn luôn giới hạn các cuộc tấn công vào mùa khô và các đơn vị lớn làm nút chặn của Hmong chưa được sử dụng cho đến năm 1969. Hình thái chiến tranh theo mùa mà Sullivan mô tả không rõ nét cùng một lúc; nó phát triển qua nhiều năm và hình thành bởi sự trông cậy vào không quân mỗi ngày một nhiều cũng như nhịp điệu của thời tiết.

  

Thong Vongrassamy

  Sư đoàn 316 khởi sự chiến dịch mùa khô năm 1965 vào tháng Giêng, dùng trung đoàn 174 làm mũi nhọn xung kích. Hầu hết Cánh Đồng Chum lọt vào tay Cộng quân nhưng Vang Pao vẫn giữ được một số vị trí riêng lẻ Bắc Sầm Nứa và dọc lộ 6 phía trên Cánh Đồng. Những tiền đồn này là những điểm xuất phát của trận tiến chiếm Sầm Nứa giữa năm 1963, một chiến thắng thần tốc đưa Vang Pao lên chức tướng và mở lại con đường binh nghiệp cho Thong Vongrassamy, một trong những chỉ huy trưởng của các tiểu đoàn quân đội Hoàng Gia mất tích từ năm 1960, được Tony Poe tìm thấy.

  Thong là một sĩ quan Lào hiếm hoi thích chiến đấu. Có lẽ bởi vì ông không thuộc giới quý tộc như các sĩ quan khác trong quân đội Hoàng Gia và do đó không quen để kẻ khác làm những chuyện khó khăn thay cho mình. Thong sinh ra trong một gia đình nghèo ngoại ô Vientaine. Ông ra đời lúc chín tuổi, làm thuê làm mướn trên đồng ruộng. Ước vọng thăng tiến quá mãnh liệt, ông dành dụm tiền làm mướn theo học các trường nổi tiếng ở Vientaine. Ông là một học sinh xuất sắc và luôn mơ ước học lên cao nhưng tiền công làm ruộng không đủ thực hiện giấc mơ ấy. Cơ hội duy nhất để thăng tiến là gia nhập quân đội Lào, lúc ấy do Pháp bảo trợ. Với tiêu chuẩn tầm thường của quân đội, và với sự thông minh xuất chúng, ý chí thăng tiến nghề nghiệp, ông dễ dàng vượt lên hàng đầu trong số các sĩ quan Hoàng Gia.

  Khi Mỹ thay thế Pháp, các cố vấn Mỹ ngay tức khắc nhận ra triển vọng tài năng của Thong và gửi ông sang Mỹ , trại Fort Bragg theo học ngành chỉ huy cao cấp. Ba năm sau, ông trở thành chỉ huy trưởng một tiểu đoàn tại Sầm Nứa. Khi Cộng quân phát động cuộc tiến chiếm tỉnh Sầm Nứa năm 1960, Thong là một trong số rất ít sĩ quan Hoàng Gia giữ vững trận tuyến. Đơn vị của ông tổn thất nặng; gần một nửa đào ngũ. Ông dẫn số binh sĩ còn lại lên núi, tổ chức phục kích các trạm hậu cần Pathet Lào để trau giồi khả năng chiến đấu và để chiếm đoạt lương thực nuôi quân.

  Gần ba năm trôi qua trước khi Tony Poe khám phá ra Thong và tiểu đoàn của Thong vẫn tồn tại. Poe tìm ra Thong trong bộ quân phục rách nát, tóc xõa ngang vai, đầy vẻ man rợ và uy dũng. Sau khi Poe cấp phát vũ khí, quân trang quân dụng, Thong quyết định để bộ tóc ấy. Cao hơn người Lào trung bình một cái đầu, ông là một vóc dáng dễ nể. Bây giờ với bộ tóc xõa trong chiếc mũ bê rê màu huyết dụ, ông giống như một phiên bản Á Châu của Che Guevara Trung Mỹ.  Khi Thong xuất sắc trong chiến dịch tái chiếm Sầm Nứa, Vang Pao phong cho ông chức Đại Tá và cho phép ông toàn quyền điều động binh sĩ của mình, Thong dẫn tiểu đoàn đã được phục hồi sức mạnh nhờ tiếp tế trang bị đầy đủ, tiến về hướng Nam lập một tiền đồn ở Phu Kouk, 19 dặm Tây Nam thị xã Sầm Nứa. Sau đó ông băng qua Sầm Nứa về phía Bắc lập thêm một tiền đồn nữa ở Nong Khang, tuyển mộ thêm binh sĩ từ trong cư dân địa phương thành lập thêm một tiểu đoàn dân sự chiến đấu. (Xin nói thêm. ADC, Auto Defense de Choc, dân quân tự vệ có nhiệm vụ tự vệ, chiến đấu tại địa phương. SGU, Special Guerrilla Unit là biệt kích cơ động, chiến đấu bất cứ nơi nào cần, di chuyển bằng trực thăng, là lực lượng tinh nhuệ nòng cốt của Vang Pao.) Hơn một năm, hai đơn vị của Thong, đặt chỉ huy sở cách nhau 40 dặm, quấy nhiễu Pathet Lào với những trận đánh đêm và ngay cả tấn công tỉnh Sầm Nứa. Tỉnh này lại lọt vào tay Pathet Lào một thời gian ngắn ngủi sau cuộc tốc chiến tốc thắng 1963 của Vang Pao.

  Mặc dầu cuộc tấn công vào Sầm Nứa của đại tá Thong chỉ là trận pháo kích bằng súng cối, một đặc sứ Pathet Lào ở Thái Lan mô tả cho các phóng viên giống như một cuộc tấn công toàn diện. Giọng điệu ấy là một thước đo ảnh hưởng của Thong đối với tinh thần binh sĩ Pathet Lào và tại sao Bắc Việt chọn hai tiền đồn của Thong là hai mục tiêu đầu tiên trong chiến dịch mùa khô năm 1965 của họ. Những thành phần của trung đoàn 174 tràn ngập tiểu đoàn Hoàng Gia Lào của Thong ở Phu Kouk nhưng Bắc Việt dội lại ở Nong Khang nơi tiểu đoàn dân sự chiến đấu còn lại của Thong tử thủ căn cứ trên núi. Trung đoàn 174 chuyển mũi dùi về hướng Nam đến ba căn cứ Hmong, trấn giữ lộ 6, cấm chỉ mọi vận chuyển quân sự Bắc Việt.

  Thường thường Bắc Việt dùng lộ 7 nhưng chiến dịch Lăn Thùng (Barrel Roll) tháng 12 năm 1964 của không lực Mỹ đã hủy hoại đường này. Mục tiêu chính của Barrel Roll là những ngã tư chính dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh. Không có ý tưởng dùng phi cơ yểm trợ chiến trường nội địa Lào. Nhưng Barrel Roll vi phạm không phận Lào và do đó, cần phải có sự chấp thuận trực tiếp của thủ tướng Souvanna Phouma. Phouma chấp thuận nhưng muốn có gì khác đáp lại. Không lực Mỹ cũng sẽ oanh kích các vị trí Cộng quân quanh cánh Đồng Chum.

  Cuối tháng 12, F-8 và F-105 thả bom lộ 7 từ Nong Pet đến Nong Het. Trung tuần tháng Giêng năm 1965, vận tải cơ C-123 thả hỏa châu rọi sáng đường 7 cho F-100 Siêu Lưỡi Kiếm oanh tạc đêm. Vài ngày sau, 16 chiếc F-105 đánh bồi thêm và làm sập cầu Ban Ken. Mức độ tàn phá của chiến dịch Barrel Roll còn nặng nề hơn những toán phá hoại của Bill Lair hồi tháng 8 năm 1963, buộc Cộng quân chuyển sang lộ 6.

  Để giúp giao thông trên lộ 6, Cộng quân phải trừ khử các đồn bót Vang Pao dọc theo trục lộ. Bắc Việt đầu tiên tấn công căn cứ Hmong ở Hong Non, nằm chênh vênh trên một vùng cao nhìn xuống một phi trường. Tony Poe ở đó với một toán không cảnh Thái Lan gồm năm người, chui rúc dưới chiến hào cùng với Hmong, ngày ngày quan sát chân trời tìm kiếm dấu vết tiến quân của địch. Bắc Việt ở khá xa phi trường khi bị phát giác. Hmong khai hỏa nhưng bắn hụt. Quên hết những gì đã học, họ không điều chỉnh tầm ngắm bù vào khoảng cách. Poe nhắc lại bài học rồi cầm một khẩu súng minh họa. Lúc này, Bắc Việt đã tiến đến gần 200 mét. Poe bắn vài băng đạn. Một không cảnh cố vấn dùng ống nhòm đếm được 17 xác chết.

  Tin rằng địch đã hoàn toàn bị tiêu diệt, Poe rời chiến hào đi lục soát tử thi. Một không cảnh và hai Hmong đi với Poe. Đi được nửa đường, Bốn Bắc Việt nhảy ra từ trong bụi rậm và bắt đầu bắn. Một viên đạn trúng vào hông Poe, đẩy anh ta ngã xuống. Địch xông lại, Poe ném một lựu đạn về phía họ, đếm từ một đến ba rồi ném trái nữa, trái nữa. Mọi việc trở nên yên lặng. Hai Hmong và một không cảnh đi theo đã chết. Dùng khẩu súng làm gậy, Poe lết về căn cứ.

  Sau khi y tá Hmong băng bó vết thương, Poe gọi trực thăng. Đạn súng cối rơi như mưa xuống phòng tuyến Hmong. Chỉ có một chỗ an toàn cho trực thăng đổ bộ cách xa khoảng năm dặm. Poe hẹn với trực thăng ở đó. Anh dặn đồng dội Hmong tử thủ trong lúc anh ra điểm hẹn, và hứa sẽ trở lại để bốc họ.

  Dùng súng làm gậy, Poe lê lết năm dặm đến điểm hẹn. Khi trực thăng đến, Poe ra lịnh cho phi công bay đến căn cứ. Mặt Poe đã mất thần sắc vì mất máu và kiệt sức. Viên phi công muốn chở một mình Poe đến bệnh viện ở Thái Lan cấp cứu. Poe khăng khăng ra lịnh bay trở lại căn cứ Hmong. Viên phi công lý luận rằng trọng tải trực thăng không đủ cho toàn thể binh sĩ.  Anh ta cần đưa Poe đi bịnh viện trước. Poe nói rằng anh không cần biết máy móc trực thăng chở được hay không nhưng phải triệt thoái Hmong ra khỏi núi. Anh đã hứa với đồng đội là sẽ quay lại và anh phải quay lại, chết cũng phải quay lại.

  Có lẽ đây là tập quán của một cựu thủy quân lục chiến. Theo truyền thống, thủy quân lục chiến không bao giờ bỏ đồng đội. Nhưng Poe cũng thương mến Hmong trong tình người. Năm trước anh cưới một thiếu nữ Hmong thuộc tộc Ly. Vang Pao cũng thầm yêu cô này. Đám cưới tổ chức ở Long Cheng. Touby Lyfoung tham dự nhưng Vang Pao vắng mặt. Sau này Poe và Vang Pao kình địch nhau đến nỗi Poe phải bị CIA thuyên chuyển sang quân khu 1, nơi ấy Poe cũng huấn luyện được vài tiểu đoàn biệt kích.

  Poe giữ lời hứa và cứu được đồng đội khỏi trùng vi. Hàng không Air America đưa anh ta đến bịnh viện kịp thời để cứu thương trước khi quá trễ.

  

Vang Pao Giảm Nhuệ Khí

  Sau khi tấn chiếm Hong Non, trung đoàn 174 Bắc Việt tiến quân về phía Houei Sa An và Hua Moung, hai căn cứ Hmong dọc đường 6. Một tiểu đoàn Hong ở Houei Sa An. Để tránh tổn thất, Vang Pao ra lịnh tiểu đoàn lui quân Hua Moung cũng triệt thoái nhưng không có lịnh Vang Pao.

  Một tiểu đoàn Lào đầy đủ quân số đóng ở Hua Moung do đại tá Khamsao Keovilay chỉ huy, một sĩ quan khác bị cô lập và được Poe tìm lại sau ba năm ở Sầm Nứa. Vang Pao dùng Khamsao làm một thành phần trong cuộc đánh chiếm thần tốc ở Sầm Nứa năm 1963 và sau đó chỉ định Khamsao làm phó tỉnh trưởng để thưởng cho chiến công của Khamsao. Nhưng Khamsao chỉ trung thành với tướng Phoumi Nosavan (phe khuynh hữu thân Mỹ) vì Phoumi đến Houmoung mỗi tháng để phát lương. Bây giờ Phoumi lưu vong ở Thái Lan, Khamsao mất hết ý chí chiến đấu. Ông cùng với các sĩ quan thuộc hạ bỏ rơi binh sĩ. Không người chỉ huy, binh sĩ Lào ở Hua Moung bỏ chạy khi thấy bóng địch quân xuất hiện trên các ngọn đồi, do thám tình hình qua ống nhòm.

  Vang Pao dùng trực thăng triệt thoái binh sĩ ở Houei Sa An. Ông cũng phái trực thăng đến Hua Moung để không vận dân cư (khoảng 8000 người) đến căn cứ phòng ngự gần đấy ở Na Khang.Cuộc di tản khổng lồ và quang cảnh quá nhiều người tị nạn lay chuyển niềm tin của Vang Pao. Bắc Việt đã đè bẹp lực lượng của ông. Ông không thể làm cách gì để ngăn chận địch quân. Có lẽ nếu ông có được không yểm ông sẽ giảm được sức tiến của địch. Vang Pao đã yêu cầu Vientaine tăng phái T-28 và cũng yêu cầu CIA gởi Không Lực Mỹ ở Thái Lan tăng viện. Không nơi nào trả lời.

  Theo sau cuộc triệt thoái, Vang Pao triệu tập một cuộc họp khẩn cấp ở Long Cheng. Vinton Lawrence ở đó với vài phụ tá cao cấp của Vang Pao. Vang Pao nhắc đến các chỉ huy trưởng Hmong đã tử trận, đến dân chúng bị tàn sát. Ông cảm thấy chiến tranh đã biến thành một cuộc tiêu hao nhân mạng, và không đủ nhân mạng Hmong để cung ứng cho cuộc chiến tiêu hao. Ông băn khoăn rằng có nên tiếp tục chiến đấu nữa hay buông xuôi hết mọi sự. Mọi cố gắng của ông chỉ là sản xuất thêm nữa quả phụ và cô nhi. Ông nói về viễn ảnh bỏ cuộc và dời tất cả Hmong về tỉnh Sayaboury, an toàn khu mà toàn thể bộ tộc ông tin rằng Mỹ dành sẵn cho ông.

  Lawrence chưa hề thấy Vang Pao trong não trạng ấy. Các phụ tá Vang Pao cũng thế. Sẽ có những tháng ngày tăm tối hơn trước mắt và những cơn thất vọng khác, nhưng bởi cá tính, Vang Pao là một người mau thay đổi cảm xúc và ít khi buồn chán lâu. Qua hôm sau ông lấy lại phong độ, nghiền ngẫm bước chiến lược, chiến thuật đối phó với địch. Theo dõi bước tiến của trung đoàn 174, Vang Pao kết luận Na Khang sẽ là mục tiêu kế tiếp của Bắc Việt. Hàng ngàn dân cư Hmong quanh đấy được di tản sâu hơn về hướng Tây đến Muong Hiem để được trực thăng vận đến trung tâm tị nạn chính ở Sam Thong, nhập vào chương trình cứu trợ tị nạn của Edgar Buell, lúc đó đã lên đến 125 ngàn người. Không còn vướng bận dân cư, Vang Pao rảnh tay tổ chức phòng thủ . Chỉ có một tiểu đoàn biệt kích SGU ở Na Khang, không đủ ngăn chận một trung đoàn Bắc Việt, ông kêu gọi quân đội Hoàng Gia tăng viện. Bộ tư lịnh ở Vientaine trả lời rằng họ không còn lực lượng trừ bị.

  Tuy nhiên, lực lượng tăng viện đến một cách bất ngờ do thiếu tá Douangtha Norasing, một sĩ quan Lào sinh trưởng tại Sầm Nứa, người đã ở trong lực lượng của đại tá bỏ ngũ Khamsao. Douangtha quy tụ được binh sĩ của Khamsao tạo thành hai đại đội, tiến đến Na Khang cứu viện. Vang Pao bố trí hai đại đội này ở phòng tuyến phía Đông và di chuyển tiểu đoàn biệt kích của ông phòng thủ phía Nam Na Khang. Phút cuối cùng, Vientaine chịu nhả ra hai tiểu đoàn Hoàng Gia, một ở Luang Prabang, một ở Vientaine. Vang Pao đặt cả hai tiểu đoàn này phòng thủ mặt Bắc. Chuẩn bị công sự chiến đấu kiên cố và sẵn sàng ứng chiến, ông chờ cuộc tấn công. Trung đoàn 174 Bắc Việt đã tiến quá sâu so với khả năng hậu cần và quá bận rộn chỉnh đốn hàng ngũ để có thể tấn công Na Khang.

  Chiến dịch mùa khô đã chấm dứt. Với mùa mưa sắp đến, Vang Pao đặt kế hoạch phản công mùa hè. Vì đã có 2000 binh sĩ ở Na Khang, Vang Pao biến lực lượng bố phòng thành bộ tư lịnh hành quân và trung tâm tiếp vận cho mặt trận Bắc Lào. Quyết định này thuyết phục CIA dùng Na Khang làm địa điểm xuất phát cho các phi vụ trực thăng cứu thoát các phi công Mỹ bị bắn rớt trên không phận Bắc Việt.

  Một công tác cấp cứu phi công lâm nạn do đại tá Thong, được Vang Pao chỉ định làm tỉnh trưởng Sầm Nứa. Người thường dân đầy tham vọng và ý chí tiến thân này đã ngoi lên từ trường học thành một chỉ huy lỗi lạc. Chỉ ba tháng sau khi đáo nhậm nhiệm sở, Thong nhận tin hai phi công phản lực Mỹ bị bắn rơi gần biên giới Việt Nam. Vì am hiểu địa thế, ông tình nguyện đi theo các trực thăng tiếp cứu, không quản ngại chức phận một đại tá tỉnh trưởng. Khi các trực thăng đến gần địa điểm các phi công bị bắn rơi, phòng không địch bắn lên như mưa bão. Một viên đạn trúng chiếc trực thăng chở Thong. Một mảnh đạn trúng bao tử và trổ ra phía lưng Thong. Ông được tải thương đến bịnh viện Không Lực Mỹ ở Thái Lan, giải phẫu và có vẻ thoát chết cho đến khi bị biến chứng hậu giải phẫu. Một tắc nghẽn mạch máu trong bụng đã kết liễu ông.

  Thong là một nhân vật biểu tượng. Ông là một người Lào tài năng và can đảm, tiêu biểu cho khả năng là thỉnh thoảng vẫn có những người Lào tài giỏi, đầy nhiệt huyết dám đứng lên bảo vệ tổ quốc. Ông cũng là cái cầu nối giữa Lào và Hmong, người Lào mà Hmong kính phục, không những bởi Vang Pao và bộ tham mưu mà còn sự kính phục của CIA và các nhân viên USAID đã cộng tác với ông trên chiến trường. Edgar Buell rất đau buồn về cái chết của Thong và đứng ra tổ chức lễ mai táng Thong ở Sam Thong. Để tạo vẻ long trọng mong muốn, Buell áp lực tòa đại sứ Mỹ và các viên chức Lào ở Vientaine tham dự tang lễ. Trong buổi lễ có dàn quân nhạc, sư sãi diễn hành, đọc kinh tụng niệm và đại sứ Sullivan truy tặng một huân chương ngôi sao bạc, trao cho thân phụ Thong. Điều đáng căm giận về sự phản trắc của Mỹ là sau này, thân phụ Thong bị cưỡng bách hồi hương sau khi vượt biên qua Thái Lan.

  

Không Lực

  Ưu tiên hàng đầu của Vang Pao trong chiến dịch mùa mưa là tái chiếm các căn cứ bị mất dọc lộ 6 trong mùa khô vừa qua, nhờ đó, ông có thể cắt đứt đường hậu cần địch. Ông cũng nhắm một mục tiêu lớn hơn: giải phóng thị xã Xieng Khoang đã lọt vào tay Cộng quân hơn một năm qua.

  Suy luận từ các cuộc tấn chiếm dễ dàng của Cộng quân trong cuộc tấn công của họ, Vang Pao tiên liệu sẽ phải chiến đấu gay go và có lẽ thua trận. Điều ông không biết rằng lần này là lần đầu tiên ông sẽ nhận được không yểm đều đặn và nó sẽ làm thay đổi cuộc chiến.

  Tháng Hai năm 1965, tổng thống Johnson phái hai phụ tá, John McNaughton và McGeorge Bundy đến Nam Việt Nam trong công tác điều nghiên chiến tranh. Trong cuộc thăm viếng, Việt Cộng tấn công căn cứ Mỹ ở Pleiku. Khi trở về, cả John McNaughton và McGeorge Bundy khuyên tổng thống áp dụng một chương trình oanh tạc thường xuyên để trừng phạt Bắc Việt phát động những cuộc tấn công gây hấn này và để chứng tỏ quyết tâm của Mỹ trong vấn đề chiến tranh Việt Nam. Kết quả là chiến dịch Sấm Rền (Operation Rolling Thunder), một cuộc oanh kích Bắc Việt nhằm gia tăng cường độ oanh tạc cho đến khi Hà Nội hiểu được quyết tâm ấy và đồng ý đàm phán.

  Đầu tháng Ba, một lực lượng đặc nhiệm gồm 130 phi cơ phá nổ một kho chứa 35 dặm sâu trong lãnh thổ Bắc Việt. Cường độ oanh tạc tăng dần trong thời hạn hai tháng với nhiều phi cơ và tài nguyên hơn. Chiến dịch kéo dài tám tháng nhưng lại tiếp tục sau vài ngày ngắn ngủi cho đến ba năm ròng rã, với nhiều mục tiêu thêm vào như đường sá, cầu cống, kho đạn, kho xăng dầu, nhà máy điện, công xưởng và phi trường.

  Để đáp ứng nhu cầu Sấm Rền, những oanh tạc cơ, khu trục cơ đến các căn cứ Mỹ ở Nam Việt Nam và Thái Lan và nhiều hàng không mẫu hạm vào biển Nam Hải. Sự phát triển các tiện nghi không quân có nghĩa có nhiều phi vụ hơn cho chiến dịch Lăn Thùng (Barrel Roll) ở Lào, đặc biệt trong thời kỳ tạm ngưng oanh tạc của chiến dịch Sấm Rền tại Việt Nam.

  Một tiêu chuẩn tối thiểu 32 phi xuất một ngày được dành để yểm trợ cho các cuộc hành quân bộ chiến của Vang Pao, dù người ta hy vọng con số cao hơn nhiều. Để đáp ứng nhu cầu tiện nghi không yểm ngày càng cao, CIA chọn căn cứ Bắc của Vang Pao ở Na Khang làm trục truyền tin để phới hợp không yểm cho biệt kích Vang Pao. Các chuyên viên kỹ thuật dựng radar và các đài vô tuyến. Các chuyên viên truyền tin không yểm đến để điều khiển lưu lượng phi vụ. Hai người thuộc Không quân Mỹ. Công việc của họ là chọn mục tiêu và đề nghị loại bom cho các oanh tạc cơ, khu trục cơ Mỹ. Có sáu máy bay thám thính gọi là Kiểm không tiền phương (Forward Air Controllers) từ Không quân Hoàng Gia Thái Lan (RTAF, Royal Thai Air Force) bay những phi cơ Pilatus Porters không mang biển số của CIA và hướng dẫn các phi cơ “B-Team” tiếp cận mục tiêu.

  “B-Teams” là phi đoàn thuộc không lực Thái Lan thuộc quyền đại sứ Mỹ. Từ năm 1964, phi công Lào bắt đầu được huấn luyện và không mấy tiến bộ. Các phi công Mỹ thay thế phi công Lào và bay những phi vụ dùng máy bay T-28 của không lực Hoàng Gia Lào. Điều này trái với tinh thần hiệp định Geneva. Các phi công Mỹ phá hủy một cây cầu và tiêu diệt các xe tải quân sự dọc đường 7.

  Năm cuối cùng làm đại sứ, Unger sợ rằng một trong những phi công Mỹ bị bắn rơi. Chết hay sống, phi công lâm nạn sẽ là một trở ngại ngoại giao lớn, một “tai nạn ngoại giao” có thể hủy hoại nghiệp vụ ngoại giao của ông. Unger bắt đầu mướn các phi công Thái Lan, về ngoại hình không khác người Lào, thay thế phi công Mỹ trong các phi vụ nguy hiểm nhất. Để phân biệt hai toán phi công, phi đoàn Mỹ gọi là “A Team” và phi đoàn Thái Lan gọi là “B Team”. Dù “B Team" chỉ có hơn một chục phi cơ, nó chịu trách nhiệm gần một nửa các cuộc không yểm cho biệt kích Vang Pao trong chiến dịch mùa mưa của ông.

  Tháng bảy năm 1965, Vang Pao huy động lực lượng để tái chiếm Hua Muong, giai đoạn đầu trong cuộc phản công mùa mưa. Trung đoàn 174 Bắc Việt đã rút về Việt Nam để bồi dưỡng, tái trang bị, để lại những lực lượng tượng trưng trong các vị trí rải rác. Chỉ có vài đại đội Bắc Việt ở Hua Muong, nhưng được lịnh tử thủ cho đến người cuối cùng. Vang Pao không vận binh sĩ từ Na Khang đến những địa điểm ấy và thanh sát mục tiêu. Bắc Việt đã đào những hầm hố bên sườn núi và rúc vào như những con chồn con cáo. Một cuộc tấn công trực diện sẽ đem lại tổn thất nặng. Vang Pao cho trực thăng câu những đại bác 105 ly đến một cao điểm gần đó. Một toán không cảnh Thái Lan giúp bố trí và pháo kích các hầm hố địch. Rồi Vang Pao gọi máy bay oanh tạc.

  Vang Pao đầu tiên mục kích năng lực không quân hồi giữa năm 1964. Vientaine phái “B Team” cung ứng không yểm cho binh sĩ Kong Lê đang bị đánh bật khỏi Cánh Đồng Chum. Trong lúc các oanh tạc cơ T-28 còn đang ở trên không trung, Vang Pao thuyết phục Vientaine chia sớt cho ba phi vụ đánh vào điểm tập trung quân địch gần căn cứ cũ của ông ở Padong. Các T-28 bay đến, từng chiếc tuần tự trút bom. Đối với Cộng quân trên mặt đất, lần đầu tiên họ nếm mùi không kích. Họ kinh hoàng chạy tứ tán. Máy bay giống như phù phép. Chúng cướp tinh thần quân địch.

  T-28 cũng tấn công Hua Muong nhưng thêm vào những máy bay cánh quạt chuyên dùng để huấn luyện, võ trang bom và đại liên hai bên cánh, cuộc oanh kích còn có thêm phản lực cơ Mỹ tham dự. Phản lực cơ Mỹ không chỉ lùa Cộng quân hoảng sợ rúc vào trong các hầm hố, chúng thực sự tiêu diệt quân địch. Sau khi T-28 của Không Quân Hoàng Gia Lào trút bom, F-4 và F-105 Mỹ chở bom nặng tấn công các công sự địch. Từng đợt oanh kích nối tiếp cho đến khi cả khu vực thành cảnh giống như trên mặt trăng lỗ chỗ những hố bom.

  Sau khi các phản lực Mỹ đi khuất, bãi chiến trường hoàn toàn yên lặng. Không một tiếng súng bắn ra từ các hầm hố, không một binh sĩ Bắc Việt nào chui khỏi hầm để đầu hàng. Họ chết sạch. Vang Pao ngồi ăn tại chiến trường với các sĩ quan của ông.  Nó là một quang cảnh rùng rợn. Mặt đất đầy những xác người trộn với đất đá. Vang Pao rất hài lòng với sự hủy diệt hoàn toàn quân địch đến nỗi ông ở suốt đêm tại chiến trường để khao quân bằng thịt bò và rượu đế do trực thăng thả xuống.

  Hai tháng sau Vang Pao tấn công Houei Sa An, nơi đã lọt vào tay Cộng quân hồi tháng Hai. Nhờ không quân, căn cứ lọt vào tay ông dễ dàng. Binh sĩ Bắc Việt để lại 55 tấn thực phẩm và hai tấn đạn dược.

  Vang Pao dự trù chuyển quân vào hai khu vực khác, nhưng đầu tiên ông cần bổ sung lực lượng để thay thế các tiểu đoàn Hoàng Gia “mượn” từ tháng Hai và bây giờ bị đòi lại. Chiến thắng ở Houei Sa An và Hua Muong đã củng cố niềm tin vào sự hữu hiệu của các tiểu đoàn cơ động không vận mới bổ sung của ông. Hơn 5000 Hmong đã được tổ chức thành những lực lượng dân quân tự vệ ADC (Auto Defense de Choc).  Kế hoạch của Vang Pao là huấn luyện họ trở thành biệt kích cơ động SGU (Special Guerrilla Units) và đồng thời tuyển mộ thêm tân binh để gia tăng lực lượng. Trước đây các biệt kích được thụ huấn quân sự ở Thái Lan và Long Cheng. Để thu ngắn thời gian, Vang Pao di chuyển trung tâm huấn luyện đến Muong Cha, một làng Đông Nam Long Cheng ở chân núi Phu Bia, ngọn núi cao nhất Lào. Đã có vài đơn vị dân sự chiến đấu trong khu vực, làm một nơi lý tưởng để mộ quân thành lập đơn vị mới.

  Đến tháng Mười, Vang Pao đã có bốn tiểu đoàn biệt kích sẵn sàng chiến đấu. Ông không vận hai tiểu đoàn tân binh đến Na Khang và chỉ thị họ thọc xuống Nam tiến đến thung lũng Ban Ban nhằm kiểm soát ngã tư trục lộ 6 và 7, một điểm nghẽn cho hậu cần Bắc Việt. Bắc Việt dồn quân vào đấy để giải tỏa trục lộ.

  Trong khi Hmong và Bắc Việt chiến đấu tranh giành thung lũng Ban Ban, Vang Pao chuyển hai tiểu đoàn còn lại thọc sâu hơn nữa về hướng Nam về Ban Na Nat. Ý tưởng là từ đó chuyển ngược lên lộ 42 tái chiếm thị xã Xieng Khoang. Đức vua sẽ kinh lý Long Cheng lần nữa vào tháng Giêng năm 1966. Vang Pao muốn tặng đức vua món quà giải phóng Xiêng Khoảng làm lễ triều kiến.

  Dò đoán được ý đồ ấy, cộng quân lập tức chuyển quân đến lộ 42 để đẩy lui lực lượng tấn công. Đầu tháng 12, chiến tuyến khựng lại ở thị trấn đường lộ ở Ban Peung, bây giờ đầy nghẹt bộ binh Bắc Việt. Vang Pao mang đại bác không giật dập nát ngôi làng trong vài ngày. Cộng quân tử thủ và giữ được vị trí.

  

Bắc Việt Tập Trung Quân

  Mùa khô đã đến – Mùa Vang Pao phải thu quân và chuẩn bị cho cuộc tấn công vũ bão không thể tránh được của Cộng quân. Dù thế Vang Pao vẫn chưa có thể chấm dứt cuộc vận động để tái chiếm Xiêng Khoảng trong tay Cộng quân. Để lại hai tiểu đoàn biệt kích ở Ban Peung trên lộ 42 Nam thị xã Xiêng Khoảng, ông chuyển hai tiểu đoàn còn lại ở thung lũng Ban Ban lên hướng Bắc để tăng cường cho căn cứ của ông ở Hua Muong trên lộ 6, một mục tiêu dự kiến của Bắc Việt. Rồi ông huy động các đơn vị Dân sự chiến đấu ở Sầm Nứa và Xiêng Khoảng dàn thành một phòng tuyến rộng ở mặt Bắc để làm chậm bước tiến địch. Các toán Dân sự chiến đấu không bắt buộc giữ đất, nhưng chỉ làm chậm bước tiến của địch để giảm bớt tổn thất.

  Qua tháng Giêng và tháng Hai, những đơn vị Bắc Việt đổ dồn vào Quân Khu 2, nhiều hơn trước. Hoa Thịnh Đốn nhận thức sai về tính chất cuộc chiến ở Việt Nam. Trước đó vào tháng 11 năm 1965, lần đầu tiên Bắc Việt đã chạm trán với binh sĩ Mỹ ở Việt Nam trong một trận đánh quy ước với quân số đông đảo. Trước đó binh sĩ Mỹ chỉ đụng độ với những đơn vị du kích, hầu hết Việt Cộng, chuyên đánh rồi chạy. Đó là một chiến thuật gây nhiều lúng túng về phía Mỹ, không những cho binh sĩ mà còn cho các tướng lãnh đặt kế hoạch cuộc chiến.

  Tướng William Westmoreland, tư lịnh các lực lượng võ trang ở Việt Nam, hết sức mong mỏi một cơ hội chạm trán với địch quân trong một trận đánh quy ước. Không chỉ hy vọng để gây tổn thất lớn cho địch quân, Westmoreland còn muốn đánh giá khả năng chiến đấu của lực lượng Mỹ đã được huấn luyện, trang bị để chiến đấu trên miền đồng bằng Âu Châu, với những đơn vị chính quy Bắc Việt trong địa hình nhiệt đới ở Việt Nam.

  Đối thủ của Westmoreland, tướng Võ Nguyên Giáp cũng muốn biết điều ấy và quyết định chọn thung lũng Ia Drang nơi ông điều động 7 tiểu đoàn để phục kích một tiểu đoàn Mỹ. Một học sinh đầy triển vọng về lịch sử quân sự, Giáp có lẽ nghĩ đó là điềm tốt hay có lẽ mỉa mai, chọn đơn vị Mỹ này để thử nghiệm binh sĩ. Đó là tiểu đoàn 1, trung đoàn 7 kỵ binh, trung đoàn đã tử chiến với trung tá Custer ở Little Big Horn năm 1876 chống với bộ lạc da đỏ Sioux and Cheyenne.

  Ngày 14 Tháng 11, theo tin tình báo, một lực lượng lớn Cộng quân tập trung ở cao nguyên Trung Phần, trung đoàn 7 kỵ binh được không vận bằng trực thăng xuống Ia Drang từ tờ mờ sáng. Không bao lâu sau khi đoàn trực thăng rời khỏi, tiểu đoàn 1 bị tấn công từ mọi mặt.

  Khi trời sáng rõ, binh sĩ Mỹ với quân số ít ỏi phải đánh cận chiến. Một đại đội đi đầu bị cắt đứt liên lạc với tiểu đoàn và bị tiêu diệt. Sau trận đánh, tử thi một binh sĩ Mỹ được tìm thấy trong đám cỏ voi, hai bàn tay vẫn còn bóp cổ một xác một lính Bắc Việt. Một trong vài binh sĩ sống sót sau này kể lại rằng trong suốt trận đánh, anh không ngăn được nghĩ tới trận đánh lịch sử ở Little Big Horn lại tái diễn ở đây.

  Bộ chỉ huy tiểu đoàn là những cựu chiến binh cuộc chiến Đại Hàn và quá quen với nhửng trận tử chiến. Họ gọi trọng pháo yểm trợ, hướng dẫn cho pháo ngay trên đầu phòng tuyến quân mình. Các viên đạn nổ chỉ cách phòng tuyến trung đoàn 7 trong vòng 20 mét. Không quân cũng được gọi để yểm trợ gần. Sau đó B-52 giã xuống trận địa với những trái bom 500 cân. Chiều xuống, Bắc Việt rút lui, để lại 634 chết và theo ước lượng, 600 xác chết được mang theo. Trung đoàn 7 chết 79 và bị thương 121.

  Trận Ia Drang được Westmoreland rút tỉa hai bài học khác nhau. Với Westmoreland, nó chứng tỏ lực lượng Mỹ ngay khi bị áp đảo với quân số 7 trên 1, vẫn có thể đánh bại bắc Việt với điều kiện trọng pháo và không yểm đầy đủ. Nó làm vững niềm tin rằng những cuộc hành quân Truy lùng và Tiêu diệt đã thực hiện khắp chiến trường Nam Việt Nam có thể đánh bại Bắc Việt và Việt Cộng.

  Hồi tưởng lại Ia Drang, chuyên gia quân sự Harry Summers kết luận rằng nếu người Mỹ thua trận ấy thì tốt hơn, giống như họ từng thua một trận đánh lớn thời Đệ Nhị Thế Chiến ở Kasserine, Bắc Phi, buộc họ phải áp dụng chiến thuật khác tốt hơn.

  Chỉ Cộng quân rút được bài học hữu ích. Với Giáp, bài học Ia Drang chỉ đơn giản tránh đụng độ với Mỹ trong các trận đánh lớn, tạo khó khăn cho chiến thuật Truy lùng và Tiêu diệt của Westmoreland, nhằm gây tổn thất lớn cho quân địch. Không biết quan điểm của Giáp và tin tưởng Westmoreland đã nắm vững mọi sự, tổng thống Johnson kết luận rằng Hà Nội đã thấm đòn không lực Mỹ và thất bại quân sự như Ia Drang sẽ đem Cộng quân đến bàn đàm phán. Để tỏ thiện chí, Johnson ngưng cuộc dội bom Sấm Rền (Rolling Thunder) năm tuần lễ.

  Thay vì bước vào bàn điều đình, Hà Nội lợi dụng việc ngưng oanh tạc di chuyển thêm binh sĩ vào Lào. Đa số sẽ đường mòn Hồ Chí Minh nhưng gần 5000 binh sĩ ở lại quân khu hai tăng cường cho sư đoàn 316 giữ an toàn cho tuyến hậu cần dẫn đến Cánh Đồng Chum. Cuộc oanh tạc liên tục trên lộ 7 đã làm cho trục lộ không thể dùng được cho đến khi Bắc Việt lùa các toán dân công sửa chữa. Chỉ còn lại lộ 6. Bắc Việt vẫn kiểm soát trục lộ chính trong tay Vang Pao. Hà Nội muốn khai thông con đường và muốn đẩy Hmong hoàn toàn ra khỏi Sầm Nứa.

  Cộng quân mở hai mặt trận. Các tiểu đoàn Bắc Việt chuyển xuống lộ 42 tăng cường cho đồng đội đang bị khựng lại ở Ban Peung và ngăn chận quân Hmong tiến về thị xã Xiêng Khoang. Trong vòng vài ngày, toàn thể lực lượng Cộng quân dồn vào Ban Peung và tràn đến các đơn vị biệt kích Hmong. Theo lịnh Vang Pao, Hmong triệt thoái.

  Tất cả tiền đồn Bắc Sầm Nứa của Vang Pao triệt thoái. Thiếu tá Douangtha chỉ huy một trong các đồn này, chỉ huy một tiểu đoàn thiếu. Binh sĩ của ông chiến đấu tốt. Xác lính Bắc Việt la liệt chiến trường. Nhưng Douangtha cũng bị tổn thất. Tiểu đoàn của ông còn lại 26 người lúc ông quyết định rút lui. Để tránh tổn thất nhiều hơn, Vang Pao ra lịnh bỏ hết các tiền đồn.

  Cộng quân chiếm giữ các đồn lũy đã triệt thoái và phái một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 168 đến Na Khang. Cứ điểm phòng thủ là trạm tiếp vận chính cho tất cả chiến dịch Bắc Lào. Hầu như mỗi ngày, C-123 và Caribou hạ cánh xuống Na Khang tiếp tế đạn dược và tiếp liệu. Những phi cơ nhỏ hơn (Helio, Pilatus Porters và trực thăng) vận chuyển tiếp phẩm đến các tiền đồn Hmong khắp khu vực. Quan trọng hơn đối với Cộng quân, Na Khang đóng vai trò chính yếu trong chiến dịch oanh tạc Sấm Rền. Không lực Mỹ mới đây đã bố trí hệ thống truyền tin không quân, giúp hướng dẫn các oanh tạc cơ Mỹ thâm nhập sâu xa hơn vào Bắc Việt Nam. Na Khang cũng là trạm tiếp tế nhiên liệu cho các cuộc cấp cứu bằng trực thăng tìm kiếm các phi công Mỹ bị bắn hạ trên lãnh thổ Bắc Việt. Trong các phi vụ oanh tạc, trực thăng Jolly Green Giant giữ đội hình bay 10000 bộ trên cao gần biên giới, chờ lịnh tiếp cứu các phi công. Mỗi vài giờ họ bay về Na Khang đổ xăng và lại cất cánh, lập đi lập lại cho đến khi chấm dứt oanh tạc và các phi cơ, phi công trở về an toàn vô sự.

  

Chiến thương

Tải thương

  Cuộc tấn công ở Na Khang khiến Vang Pao thất thế. Ông thiết tưởng có đủ thời gian tái phối trí lực lượng và tăng viện cho các đồn bót tổn thất nặng. Ông không ngờ địch quân tấn chiếm quá dễ dàng các căn cứ phía Bắc. Chỉ có một lực lượng tượng trưng gồm hai đại đội ở Na Khang. Các đơn vị khác đã tản mác khắp Sầm Nứa đang triệt thoái, chỉ để bảo toàn lực lượng. Từ bộ tư lịnh quân khu 2 ở Long Cheng, Vang Pao ra lịnh di tản dân chúng khỏi Na Khang.

  Hai nhân viên CIA ở lại với lực lượng phòng ngự là Mike Lynch và Jerry Daniels, một khuôn mặt mới. Một cá tính sôi nổi, Daniels được tuyển dụng từ miền Tây Montana, nơi anh làm chuyên viên cứu hỏa nhảy dù (smoke jumper) cho sở Kiểm Lâm và dùng thì giờ còn lại chơi trò cỡi bò rừng. Don Sjostrom, nhân viên phụ tá cho cơ quan cứu trợ tị nạn của Edgar Buell cũng ở đó, lo điều phối việc di tản người tị nạn. Cả Don Sjostrom, Mike Lynch và Jerry Daniels đều ở lại. Cả ba làm việc mật thiết với Hmong. Họ cương quyết ở lại với du kích Vang Pao: Mike Lynch và Jerry Daniels ở lại chiến đấu và Sjostrom ở lại để hỗ trợ tinh thần.

  Những đơn vị Bắc Việt đã thăm dò quanh căn cứ. Các nhân viên CIA liên lạc với đại sứ Sullivan gọi phản lực thả bom lửa napalm. Trước đó chỉ một lần Sullivan ra lịnh sử dụng bom lửa để đẩy lui địch quân trong công tác cứu thoát phi công lâm nạn. Lúc đó bộ Ngoại Giao đã nổi giận về quyết định ấy. Sullivan bất đắc dĩ dùng vũ khí này lần nữa vì ý tưởng nhân viên CIA rơi vào tay Cộng quân quả là vô cùng nghiêm trọng trong nghiệp vụ ngoại giao của ông. Ông ra lịnh dội bom lửa.

  Phản lực cơ can thiệp ngay trong một đợt tấn công dữ dội của Cộng Quân. Làn sóng lửa tràn ngập quân Bắc Việt, bẻ gẫy đợt tấn công. Khi Cộng quân tháo lui để chỉnh đốn đội hình, Vang Pao đến chiến trường để chỉ huy cuộc phòng thủ. Ông tìm thêm binh sĩ và dùng trực thăng không vận đưa họ đến chiến trường.

  Cộng quân lấy lại tinh thần và lại bắt đầu thăm dò yếu điểm. Những trận đánh lẻ tẻ diễn ra rồi tàn lụi. Trong một lúc im tiếng súng, Vang Pao đứng ở cạnh phi đạo trao đổi với các sĩ quan thuộc hạ, thì hàng loạt tiếng súng nhỏ lại vang lên. Những viên đạn găm vào một trực thăng mới đổ bộ và làm tung bụi mờ mịt phi trường. Một viên đạn trúng Vang Pao.

  Vang Pao đã từng gặp nhiều may mắn. Ông luôn có mặt ở chiến trường, lúc thì ở trực thăng điều động binh sĩ bằng vô tuyến, hoặc ra lịnh trực tiếp cho sĩ quan chỉ huy dưới quyền, thường đối mặt với hỏa lực địch. Trong một trận đánh, một trái bom lạc nổ cách ông có 20 mét. Sức nổ đẩy ông bay tung lên không. Lúc ấy sĩ quan hầu cận tưởng ông chết.

  Không chỉ thường xuyên trong bom đạn, thỉnh thoảng ông dẫn quân trên chiến trường. Một lần khi Đại sứ Sullivan thăm viếng Long Cheng trong dịp tin chiến thắng quân Bắc Việt, Vang Pao muốn thị sát mặt trận. Với Sullivan tháp tùng, Vang Pao dùng trực thăng bay ra chiến trường. Trận đánh vẫn chưa kết thúc. Dù chủ lực địch đã bị đánh bật, một số chốt tử thủ vẫn còn mai phục trong hầm hố trên đồi. Đó là những xạ thủ bắn sẻ. Xác binh sĩ Hmong tấn công lên đỉnh đồi nằm rải rác quanh sườn đồi.

  Trước kinh ngạc của Sullivan, Vang Pao chọn một trung đội và trao cho mỗi người một trái lựu đạn. Ông dẫn họ lên đồi, chiếm một vị trí vối đội hình hàng dọc và ra lịnh cho người đầu chạy về phía trước, ném lựu đạn vào hầm rồi chạy xuống đồi, xếp hàng chót trong đội hình. Cứ thế toàn trung đội luân phiên ném xoay vòng cho đến khi hết thùng lựu đạn. Sau đó ông dẫn đầu trung đội tiến lên, chỉ khai hỏa khi cách hầm địch vài mét. Sau khi nổ súng, họ lôi ra khỏi hầm những tử thi Bắc Việt tan nát vì lựu đạn.

  Có mặt tại chiến trường quá nhiều tăng nguy cơ Vang Pao sẽ chết hoặc bị thương. Ông đã thoát chết rất nhiều lần khiến binh sĩ tưởng ông có bùa hộ mạng. Vang Pao cũng tin thế. Ông tin tổ tiên luôn bảo vệ ông, cảnh giác trước mỗi nguy cơ. Năm 1953 Việt Minh xâm lấn Lào, trong khi dẫn lực lượng Pháp từ Muong Hiem đến Cánh Đồng Chum, Vang Pao dẫn đoàn quân lên núi theo ý muốn của viên chỉ huy Pháp. Lúc 3 giờ sáng, một con dê núi lạc vào trại đánh thức Vang Pao. Ông cho đấy là điềm báo của tổ tiên rằng có Việt Minh gần đấy. Dưới sự phản đối của viên chỉ huy Pháp, cho rằng cảnh báo của tổ tiên là phi lý, Vang Pao tức tốc dời trại và dẫn đoàn quân đóng quân cao hơn về phía đỉnh núi.

  Vang Pao nhận nhiều cảnh báo như thế qua nhiều năm chiến đấu. Một lần ở Long Cheng, ông leo lên một trực thăng và linh cảm tổ tiên khuyên ông rời khỏi máy bay. Chiến trực 6thăng cất cách không có ông, và nổ ngay trên không. Nó bị phá hoại bằng một trái lựu đạn gài dưới bình xăng.

  Ngay cả với sự phù hộ của tổ tiên, xác suất học cho thấy rốt cuộc Vang Pao cũng phải gục ngã. Na Khang là nơi xẩy ra chuyện ấy. Nhân viên CIA Mike Lynch đứng kế chiếc trực thăng bị trúng đạn. Lynch nhào xuống đất và liếc nhìn xung quanh. Anh thấy Vang Pao chảy máu và lôi Vang Pao vào chỗ khuất và gọi trực thăng tải thương. Trực thăng đưa Vang Pao đến Muong Hiem nơi có một chiếc C-123 chở ông đến bịnh viện không quân Mỹ tại Korat, Thái Lan.

  Không có Vang Pao, tinh thần binh sĩ ở Na Khang xuống thấp. Sullivan ra lịnh mọi viên chức Mỹ triệt thoái ngay lập tức. Binh sĩ phòng thủ không có lòng chiến đấu đơn độc. Hai nhân viên CIA, Lynch và Daniels quyết định di tản hết mọi người. Trực thăng khổng lồ Chinook đến hàng đoàn. CIA nhét Hmong lên trực thăng như cá mòi, 200 người một Chinook. Ngay sau khi chiếc trực thăng cuối cùng cất cánh thì Bắc Việt tràn lên đồi chiếm lĩnh căn cứ.

  Bắc quân chiếm một bẫy tử thần. Phản lực cơ đủ loại xuất hiện, xạ kích, oanh tạc quân Bắc Việt trước khi san Na Khang thành bình địa. Theo tin tình báo, Cộng quân mang theo vài trăm xác chết. Quá nhiều xác chết đến nỗi sau hơn một tháng khi quân tăng viện đến bổ sung, địch quân mới có thể hoàn toàn kiểm soát căn cứ đã hoàn toàn bị phá hủy.

  Quang tuyến X cho thấy viên đạn đã phá gẫy xương cánh tay Vang Pao gần khớp xương vai. Để phục hồi cánh tay, Washington chở ông tới Hawaii, nơi ông có thể được tháp một khúc xương nhân tạo tại trung tâm Y Khoa Quân Đội Tripler ở Honolulu. Trong lúc nằm viện, tin đồn ở Lào rằng ông sắp chết. Binh sĩ Hmong ở chiến trường, dân sự ở Long Cheng và Sam Thông mất tinh thần và mất phương hướng. Các quý tộc họ Ly thấy cơ hội tái lập quyền lãnh đạo sắc tộc Hmong. Đằng sau LyFoung Touby, họ ép đại tá Ly Youa Vang, một trong các tộc trưởng, chỉ huy một tiểu đoàn đem quân vào Long Cheng.

  Dù Ly Youa Vang và Vang Pao là bạn thâm giao từ thời niên thiếu, Youa Vang đồng lõa trong âm mưu tiếm đoạt này. Lòng đố kỵ có lẽ đóng một vai trò. Hàng nhiều năm Youa Vang bị uy quyền Vang Pao che khuất. Đầu thập niên 1950 cả hai phục vụ trong Gendarmerie (Sen Đầm Pháp). Youa Vang là một chiến sĩ xuất sắc và cũng được sĩ quan Pháp mến chuộng như Vang Pao. Nhưng vì không có học, không biết đọc biết viết, ông không được theo học khóa sĩ quan. Trong khi Vang Pao lên chức trung sĩ, trung uý, đại úy và thiếu tá thì Youa Vang vẫn là một hạ sĩ quan. Đó là cả một thập niên thất vọng.

  Chỉ đến khi CIA yểm trợ Vang Pao thì số phận Youa Vang mới cải thiện. Sau khi theo học khóa huấn luyện đặc biệt ở Trung tâm Không Cảnh ở Hua Hin, Vang Pao phong Youa Vang chức thiếu tá chỉ huy một tiểu đoàn thiện chiến 500 binh sĩ, tiểu đoàn đầu tiên SGU (Biệt Kích) của CIA. Youa Vang dẫn đoàn quân này về Long Cheng làm một cuộc đảo chánh chiếm quyền kiểm soát quân đội của Vang Pao. Tuy nhiên đến phút cuối, binh sĩ mất nhuệ khí, từ chối lịnh chiếm đóng Long Cheng.

  Tin tức đến tai Vang Pao khiến ông phải đọc một thông điệp bằng tiếng Lào, Hmong và tiếng Pháp trên giường bịnh, phát sóng nhờ đài phát thanh Vientaine và Liên minh các sắc tộc (Union of Lao Races) của Lawrence ở Long Cheng. Bằng giọng vững vàng, khỏe mạnh của người bình phục, ông cam kết với Hmong rằng ông sẽ trở lại tiếp tục chỉ đạo cuộc chiến đấu chống Cộng.

  

Nắm Lại Kỷ Cương

  Khi Vang Pao trở về vào tháng Năm, chỉ sau hai tháng điều trị, ông lập tức triệu hồi tiểu đoàn 201 từ chiến trường. Mọi người tin rằng Vang Pao bị thương bởi đạn bắn sẻ Bắc Việt nhưng Vang Pao tin rằng ông bị chính thuộc hạ ám toán, một sĩ quan tiểu đoàn 201. Vài tuần trước khi trúng đạn, viên sĩ quan này thách đố quyền lực ông; đã xảy ra cuộc cãi lẫy to tiếng. Khi tiểu đoàn 201 tề tựu ở Long Cheng, viên sĩ quan tình nghi vắng mặt. Anh ta đào nhiệm trước khi trốn lên Vientaine. Lo ngại rằng sẽ có những người phản bội, Vang Pao chọn một cách đặc biệt của Hmong để giải quyết vấn đề. Ông buộc cả tiểu đoàn thề trung thành và uống nước thiêng để giữ lời thề. Theo tín ngưỡng Hmong, bất cứ ai uống nước thánh sẽ được thần thánh theo dõi và giết chết nếu không thành thật.

  Mùa mưa lại đến, Vang Pao nóng lòng lo việc tái chiếm các địa hạt đã mất trong mùa khô, đặc biệt là căn cứ Na Khang. Ông không còn có thể ra trận như trước nữa trong lúc này. Ông vẫn còn dưỡng thương và cánh tay vẫn còn treo trước ngực, được điều dưỡng mỗi ngày với một điều dưỡng viên biệt phái của quân đội Mỹ để bảo đảm cánh tay ông bình phục đúng cách.

  Vang Pao không vận binh sĩ đến Muong Hiem, nơi làm căn cứ xuất phát tấn công tái chiếm Na Khang. Từ đó họ chuyển hướng Nam càn quét lực lượng trấn giữ. Trước khi các tiểu đoàn của ông xung trận, các oanh tạc cơ từ Hải Quân và Không Quân Mỹ nghiền nát căn cứ suốt hai ngày. Hmong tràn ngập Na Khang, đuổi Cộng Quân ra ngoài đồng trống làm mồi cho phản lực và T-28 quần trên đầu. Khi không quân bắt đầu tấn công, quân Bắc Việt chạy vào bìa rừng. Các phi cơ đốn họ gục ngã trước khi họ kịp lẩn vào rừng.

  Tiểu đoàn thứ năm của Vang Pao mới hoàn tất huấn luyện ở Muong Cha. Ông không vận tiểu đoàn này đến Na Khang làm lực lượng phòng thủ căn cứ vừa mới tái chiếm. Các tiểu đoàn khác tiếp tục tấn kích, thăm dò Nam và Tây để ước lượng sức mạnh địch. Họ gặp kháng cự yếu ớt. Vang Pao nghi Cộng Quân lập mưu dụ địch vào chỗ mai phục nên chia các tiểu đoàn thành những đơn vị nhỏ túa đi khắp nơi truy lùng địch. Cuối tháng 8, các đơn vị của ông tiến xa về hướng Tây Bắc đến Nam Bac, hướng Đông Bắc đến núi Phu Pha Thi và hướng Nam đến căn cứ Momentum cũ ở San Tiau. Rất ít Cộng Quân ở các nơi.

  Trước đó vào tháng 7, phản lực Mỹ đã phá hủy vài trạm hậu cần và kho đạn mà Cộng Sản đã xây cất, tích trữ 5 tháng trước. Không có hậu cần, Bắc Quân không thể duy trì một lực lượng cấp sư đoàn trên chiến địa. hầu hết các đơn vị thuộc sư đoàn 316 đã rút về Bắc Việt, để lại những đơn vị nhỏ làm nhiệm vụ chuyển hàng vào kho sẽ được chở đến bằng xe tải dọc theo đường 6 chuẩn bị cho mùa khô sắp tới.

  

Theodore Shackley

Theodore Shackley

  Tháng 6 năm 1966, Theodore Shackley thay Douglas Blaufarb làm giám đốc phân bộ CIA tại Vientaine. Shackley và Blaufarb là hai người khác nhau. Blaufarb là một người trí thức, đầy suy luận, có bằng cấp tại Harvard và Columbia. Khi làm giám đốc phân bộ từ năm 1964, việc đầu tiên ông làm là tìm thông tin về quá trình công tác và người Hmong. Ông lục lọi các hồ sơ mật và khám phá những tài liệu mô tả cách dùng người Hmong của người Pháp. Đó là lần đầu tiên có người bận tâm về việc này. Blaufarb đánh giá sự cần thiết của Chiến dịch Momentum đối với năng khiếu chính trị và xã hội của Hmong. Đó cũng là phương cách hành xử của Lair từ lâu đến giờ và Blaufarb không thấy lý do thay đổi. Ông tránh giẫm chân lên công việc của Lair và ngầm yểm trợ hay tư vấn chỉ khi nào cần thiết.

  Shackley thì khác hẳn. Văn hóa hay chính trị kỳ dị của Hmong tuyệt đối ông không hề quan tâm. Ông không quan tâm đến đời sống của Hmong nói riêng mà cũng bất kể đến người Lào nói chung. Thúc đẩy bởi tham vọng, quan tâm chính của ông là chu tất công việc được giao phó. CIA phái Shackley đến Vientaine để làm việc với chiến tranh bên Việt Nam, để dùng quân đội Hoàng Gia Lào và Vang Pao để rút cạn tài nguyên, nhân lực Bắc Việt. Bao nhiêu Lào và Hmong chết, ông không hề đếm xỉa.

  Lair không ưa Shackley. Không phải chỉ vì Shackley là giám đốc phân bộ CIA tại Vientaine đầu tiên thách đố quyền hạn của mình. Lair không ưa Shackley vì tham vọng mù quáng và sự nhẫn tâm của Shackley đối với số phận bộ tộc Hmong. Lair muốn chiến tranh ở Lào nhỏ và có thể quản lý nhưng Shackley khăng khăng muốn CIA dùng Hmong mở những cuộc hành quân cấp trung đoàn chống làn sóng xâm lăng Bắc Việt. Lair biết khí chất Hmong không thích hợp với loại chiến tranh này và thiếu nhân số cho những tổn thất nhân mạng lớn lao kèm theo nó. Nhưng Shackley tin rằng không lực sẽ làm nghiêng cán cân lực lượng khiến đoàn quân nhỏ bé Hmong đánh bại Bắc Việt. Lair cũng dè dặt về không lực Mỹ. Hmong chỉ tấn công trong thời tiết xấu, do đó, không yểm là yếu tố khó tin cậy. Đó là một điều chắc chắn toán học rằng sẽ có đôi lúc khi không yểm là yếu tố sanh tử nhưng vì thời tiết xấu, không thể thực hiện. Hàng trăm, có lẽ hàng ngàn Hmong sẽ chết.

  

Richard V. Secord

  Vị thế Shackley không những tối yếu cho việc điều khiển chiến tranh của Lair mà còn cho sự quản lý không yểm. Vài phi xuất Lair nhận được từ chiến dịch Barrel Roll và Rolling Thunder không đủ. Shackley muốn một người chuyên trách về vận dụng Không lực và Hải Quân Mỹ. Ngũ Giác Đài phái Richard Record, một đại úy không quân 34 tuổi, sang làm việc cho CIA.

  Secord tình nguyện nhận nhiệm vụ này. Từ năm 1961 đến năm 1963 ông đã là một phi công T-28 tại Việt Nam, phục vụ tại Nam Việt Nam như một lực lượng tương đương với A Team bên Lào, bay những phi xuất thay cho phi công Việt. Sau đó ông được thuyên chuyển làm cố vấn cho không lực Iran. Iran đang có một cuộc chiến tranh chống bộ tộc Kurd do Sô Viết tài trợ. Không lực Iran là một mớ rối rắm. Secord tái tổ chức và thu xếp tài nguyên để đáp ứng nhu cầu lâm thời. Ông cảm thấy rằng ông quán xuyến tốt những công việc này. Việc cải cách hiệu quả và Iran thắng cuộc chiến. Với tư cách cá nhân, Secord thỏa mãn với thắng lợi. Đó là kinh nghiệm đầu tiên trong đời với một chiến thắng rõ rệt. Đó cũng là chiến thắng “rõ rệt” chót.

  Thượng cấp của Secord ở Iran là đại tá Harry “Heine” Aderholt. Aderholt đã phục vụ ở Lào trong nhiệm vụ “nhân viên chi tiết” CIA, tiếng lóng chỉ bất cứ ai trong quân đội biệt phái tạm thời sang làm việc cho CIA. Adeholt trông coi việc xây cất Lima Sites (địa điểm đổ bộ hàng tiếp liệu và thành lập du kích Hmong) đầu tiên của CIA; và cũng chính Adeholt tổ chức những phi vụ oanh tạc đầu tiên của không lực Mỹ trên đất Lào. Với Secord, công chuyện của Adeholt trên đất Lào đầy quyến rũ và chẳng khác gì việc ông đang làm tại Iran. Khi Secord biết có cơ hội làm “nhân viên chi tiết” CIA ở Lào, ông nộp đơn tình nguyện.

  Secord đến Lào cuối năm 1965. Shackley chuyển ông đến trụ sở AB-một ở Udorn với Lair và Landry, nhằm mục đích tăng gia không yểm phục vụ chiến tranh. Lair không ác cảm về vấn đề giữa Shackley và Secord. Sau khi thuyết trình sơ lược công tác, ông phái Secord đi tham quan năm quân khu Lào, với những chặng dừng ở các Lima Sites để làm quen với mọi mặt của cuộc chiến. Điều Secord nhận thấy là Bắc quân bị trói buộc vào các trục lộ. Với sự điều hành khéo, Không quân có thể tiêu diệt hậu cần và cắt đứt các chiến dịch địch.

  Nhưng đầu tiên Secord cần thêm máy bay. Đây quả là một vấn đề. Máy bay đến từ khắp nơi, từ không lực Hoàng Gia Lào, không lực Hoàng Gia Thái Lan, Hải Quân, Không Quân Mỹ và không lực riêng của CIA, Hàng Không Air America. Mỗi tổ chức có những thủ tục riêng, phương tiện liên lạc thông tin riêng. Để vận dụng chúng, Secord tạo mạng lưới với mỗi tổ chức và tham dự cuộc họp Điều Hợp Đông Nam Á (Southeast Asia Coordination, SEACOR) ở Sài Gòn, nơi các ngành võ trang khác nhau hội thảo, kỳ kèo, phân chia các nguồn tài nguyên sẵn có. Một lợi điểm của Secord, thêm vào với quyết tâm dai dẳng, là truyền thông CIA được nối trực tiếp với mọi ngõ ngách hành chánh khác nhau. Ông có thể gặp các vị thẩm quyền trước mọi người khác.

  Đầu năm 1966 Secord phân phối nhiều tài nguyên không lực đến lực lượng Vang Pao hơn bao giờ hết. Đến cuối năm Secord có thể xúc tiến việc ngăn chận dòng lưu thông bằng xe tải trên trục lộ 6. Ông vững tin rằng ông có thể “tìm” được máy bay cần thiết, và ông có tiền sát viên tin cậy cho các cuộc oanh tạc, một Hmong tên Ying Yang (tên tục là “Tallman”), do chính Secord tuyển chọn và huấn luyện làm sĩ quan tiền sát Không Lưu (FAC, Forward Air Controller). Secord xin lịnh bắt đầu phong tỏa trục lộ 6 và Lair chấp thuận.

  Sau khi đổ bộ Tallman dọc đường 6, Secord chạy chọt “tìm” được đoàn oanh tạc cơ A-26, sửa đổi thành chuyên phi Nimrod để có thể gia tăng trọng tải, thuộc không đoàn 7 không quân Hoàng Gia Thái Lan. Khi trang bị đầy đủ, A-26 có thể mang bom xăng đặc, bom lân tinh, hỏa tiễn, hàng chục bom miểng và bom hạng nặng 2000 cân – tổng cộng 10000 cân bom. Bắc Việt vận chuyển xe tải vào ban đêm nên Secord cũng tấn công vào ban đêm, đặt tên là chiến dịch Night Watch. Các Nimrods bay được khoảng chừng một tuần, oanh tạc mọi thứ trên trục lộ. Suốt 30 ngày sau đó, không còn mọi lưu thông trên lộ 6. Secord chỉ thị Tallman xác định vị trí nơi tập trung quân Bắc Việt và hướng dẫn Nimrods đánh phá thay vì tìm xe tải như trước. Chiến dịch phong tỏa trục lộ 6 đặt Bắc Việt ở Sầm Nứa trong tình trạng nguy ngập. Rồi Tallman bị lực lượng Hmong hạ sát, buộc Secord chấm dứt chiến dịch.

  

Kong Lê Bỏ Cuộc

  Ngay khi chiến dịch Night Watch chưa chấm dứt, Kong Lê bỏ cuộc. Đầu tháng Hai khi Vang Pao đi Hawaii điều trị, hai tiểu đoàn Bắc Việt bủa vây Muong Soui. Lần đầu tiên binh sĩ Kong Le bỏ ngũ hàng loạt. Căn cứ trên bờ vực bị tràn ngập khi Không Quân Mỹ chuyển hướng một số phi cơ từ các cuộc oanh tạc Bắc Việt và đường mòn Hồ Chí Minh để tiếp cứu. Trung bình 36 phi xuất một ngày phá vỡ vòng vây địch.

  Tuy thế tinh thần lực lượng Trung Lập vẫn xuống thấp và tình trạng đào ngũ vẫn tiếp tục. Tháng Mười, các sĩ quan cao cấp của Kong Le tạo phản. Thỉnh thoảng các tướng lãnh quân đội Hoàng Gia ở Vientaine vẫn chiêu dụ họ, hứa hẹn thăng cấp nếu họ đánh đuổi vị chỉ huy của họ. Cuộc nổi loạn thành công không đổ máu. Trong một âm mưu trắng trợn gồm CIA, quân đội Thái Lan, tướng lãnh Vientaine, Kong Le được triệu tập đến Bangkok gặp CIA. Viên chức Thái Lan bèn nhân dịp ấy giam lỏng Kong Le và thông báo với ông rằng ông không được phép trở lại Lào nữa. Từ lâu Kong Le đã bỏ giấc mộng Trung Lập hóa Lào cho dù phe nào thắng cuộc. Được biết quân lực Hoàng Gia cũng nhúng tay trong vụ này, Kong Le bỏ ngũ và lưu vong tại Paris, Pháp.

  Như thể bị xô đẩy bởi những thôi thúc vô lý, bộ tư lịnh quân lực Hoàng Gia Lào tiếp tục thuyết tiến hóa...ngược bằng cách loại khỏi cuộc chiến thêm một tướng lãnh thực sự chiến đấu. Đó là tướng Mã Thao một cựu tư lịnh Không Quân Hoàng Gia, người đơn độc thành lập phi đoàn chiến đấu cơ Không Lực Hoàng Gia. Một phi công tuyệt vời, cuối năm 1963, Mã Thao đã tình nguyện dẫn đầu cuộc oanh tạc bằng khu trục cơ T-28 xuống đường mòn Hồ Chí Minh. Cuộc oanh tạc tiếp tục sang năm 1964 với cầu cống, đường sá và các đồn lũy ở đèo Mụ Già, nơi đường mòn Hồ Chí Minh bắt đầu rẽ sang Lào. Chiến dịch thành công đến nỗi Không lực Mỹ chuyển giao thêm hàng chục máy bay T-28 cho Không Lực Hoàng Gia.

  Thành công quân sự của Mã Thao và ảnh hưởng của ông với các cố vấn Mỹ làm các tướng lãnh bàn giấy của quân lực Hoàng Gia ganh ghét. Sự thành công này cũng chẳng giúp gì trong thái độ cấm phi cơ vận tải Hoàng Gia vận chuyển ma túy cho các tướng lãnh. Sau một vụ ám sát hụt vào giữa năm 1965, các tướng lãnh Hoàng Gia hạ chức Mã Thao xuống chức vụ chỉ huy Không Quân Chiến Thuật nhằm truất quyền chỉ huy các phi đội vận tải dùng chuyển vận ma túy.

  Mã Thao dời 12 chiếc T-28 và 30 phi công giỏi nhất của ông sang Luang Prabang và bắt đầu công tác chiến đấu ở chiến trường phía Bắc. Các phi công của ông bay gần một trăm phi vụ, làm nghiệng lệch cán cân chiến trường vùng Luang Prabang thượng. Điều này chỉ gia tăng ảnh hưởng với người Mỹ, các tướng Vientaine lại bổ nhiệm Mã Thao một chức vụ văn phòng ở Vientaine. Lần này Mã Thao không chịu tuân theo dễ dàng nữa. Với 12 phi công trung thành nhất, ông tấn công bộ tư lịnh quân đội Hoàng Gia Lào ở Vientaine và dội bom tư dinh các tướng.

  Một phần trong cuộc đảo chánh là đem trung đoàn Biệt Kích Cơ Động 18 (Groupe Mobile 18) bắt giữ các tướng trong bộ Tổng Tham Mưu. Vang Pao đã góp 31000 Mỹ kim tiền hối lộ để củng cố sự trung thành của trung đoàn 18. Dây dưa vào chính trị với Vientaine vốn là công việc liều lĩnh, không chắn chắn. Số tiền hối lộ của Vang Pao qua tay nhiều người trước khi đến bộ chỉ huy trung đoàn. Số tiền ấy biến mất một cách kỳ bí. Kết quả là không ai bắt giữ các tướng lãnh và Mã Thao còn trơ lại một mình. Thất bại, Mã Thao lánh sang Thái Lan tị nạn.

  Không còn Mã Thao, các tướng Vientaine, chủ yếu là Ouane Rathikone và Kouprasith Abhay, có thể vận chuyển thuốc phiện dùng máy bay vận tải quân đội. Thêm vào sự vắng mặt của Kong Le, họ có thể ủy nhiệm thuộc hạ, đại tá Sompeth, nắm quyền chỉ huy lực lượng Trung Lập. Sompeth không giữ chức vụ chỉ huy được lâu. Thủ tướng Souvanna Phouma thay ông với cháu ruột của mình là Sengsouvanh Souvannarath. Không muốn bỏ lỡ các dạ tiệc hàng đêm ở tòa Đại Sứ và tư dinh của ông cậu thủ tướng, Souvannarath dời bộ chỉ huy lực lượng Trung Lập từ Moung Soui đến Vientaine. Nó tạo thành bản chất cho tương lai. Lực lượng Trung Lập mau chóng trở nên tầm thường như các đơn vị quân lực Hoàng Gia: vô hiệu quả, không yểm trợ và sẵn sàng tháo chạy.

  

Gia Tăng Không Yểm

  Các cuộc oanh tạc mệnh danh Night Watch của Secord dọc đường 6 thắng lợi vượt bực khiến Cộng Sản dồn mọi tuyến lưu thông sang đường 7. Báo cáo cho biết trung bình 30 xe tải mỗi ngày di chuyển trên đường về phía Cánh Đồng Chum. Secord muốn truy kích các xe tải này nhưng cần sĩ quan tiền sát Không Lưu (FAC, Forward Air Controllers) để xác định mục tiêu. Giải pháp của ông là mượn người của Không Lực Mỹ.

  Hàng chục phi công Mỹ, tất cả đều dầy kinh nghiệm tiền sát Không Lưu ở Việt Nam, đến Long Cheng vào tháng Mười năm 1966. Với bí danh là “Ravens”- phi đội săn mồi, các FAC (Forward Air Controllers) xác định mục tiêu bằng phi cơ bay chậm Cessnas và T-28. Thêm vào toán Ravens (Tiền sát Không Lưu) Secord đưa vào chiến trường ba toán thám báo người Thái Lan để theo dõi tình hình đường 6 và đường 7. Secord mất vài tháng để cho công việc phối hợp trôi chẩy, nhưng một khi hệ thống khởi động, nó gieo chết chóc không những cho lưu thông mà còn cho các đại đơn vị Cộng quân nữa.

  Bắc Việt tấn công Na Khang vào thánh Giêng năm 1967. Sau khi nã hàng loạt trọng pháo, súng cối vào căn cứ, hai mũi tiến công của Cộng quân xông vào phòng tuyến. CIA Lynch và Daniels và phụ tá của Buell, Don Sjostrom (đặc trách tị nạn) một lần nữa ở trong căn cứ, giữa cơn cuồng nộ của trận đánh. Trong một đợt tấn công biển người, một viên đạn trúng Sjostrom. Một yêu cầu không yểm khẩn cấp được gủi để cứu viện Na Khang. Các phi công thám thính Cessna tiền sát Ravens cấp tốc cất cánh nhận diện mục tiêu cho A-1E Skyraiders. Các khu trục cơ xé nát các mũi nhọn địch với súng máy và bom chùm (clusters). Sau khi một đợt Skyraiders trút bom, đợt sau lại tiếp tục không ngớt. Rồi đến F-105, quá nhiều F-105 đến nỗi chúng chồng lên nhau ở nhiều tầng cao độ để chờ đến lượt xâu xé quân địch. Sau hai ngày trong lò xay thịt người này, Cộng quân tháo lui vì chết quá nhiều.

  Phải mất thêm ba tháng trước khi Cộng quân thu hết can đảm mở cuộc tấn công mới vào Na Khang. Khi họ đến, họ thấy một sa mạc giữa rừng. Secord sử dụng máy bay rải chất da cam quanh căn cứ (xin nhớ rải như thế Cộng quân ít bị nhiễm độc hơn binh sĩ phòng thủ vì chất độc gần căn cứ hơn gần quân Bắc Việt. Sau này Bắc Việt đệ đơn kiện chất da cam nhưng chỉ đưa ra những nạn nhân Bắc Việt, không thấy có nạn nhân Hmong hay Lào). Các tiểu đoàn Bắc Việt không chỗ ẩn nấp làm mục tiêu tác xạ cho quân Hmong bắn ra trong các công sự chiến đấu. Lần nữa, Cộng quân rút lui.

  Chiến trường tạm thời lắng dịu, Secord tiếp tục truy kích các xe tải trên trục lộ 6 và 7. Các toán thám báo Thái Lan xác định vị trí các đoàn xe và gọi máy bay. Các Nimrods (A-26 cải tiến) nghiền nát các đoàn xe. Đến tháng Sáu, gần 100 xe tải đã bị hủy diệt. Kế đó Secord hướng mục tiêu về phía quân bộ binh địch. Vang Pao chia quân thành ba mũi, dụ địch xáp chiến làm mồi cho Skyraiders và Nimrods. Cộng quân tổn thất nặng. Với hậu cần cạn kiệt và quân số hao hụt, đại bộ phận sư đoàn 316 rút về Bắc Việt.

  Quân Hmong bây giờ chỉ phải đương đầu với những đơn vị nhỏ và bị cô lập. Vang Pao có chín tiểu đoàn trên chiến trường. Họ càn quét Sầm Nứa, dùng không yểm phá tung công sự hầm hố địch. Biệt kích Hmong cũng chiếm hữu thung lũng Muong Ngan, một vựa lúa phong phú Tây Nam thị xã Xieng Khoang, tước đoạt nguồn lương thực mà trước đây dùng nuôi quân địch.

  Quân đội Vang Pao chưa bao giờ tuyệt vời đến thế. Secord hoàn toàn mãn nguyện. Ông tận dụng sức mạnh không quân và đem lại thắng lợi. CIA báo cáo về Washington về một thay đổi vĩnh viễn cán cân quân sự giữa Vang Pao và Bắc Việt. Đối với Shackley, viên giám đốc phân bộ CIA tại Vientaine, điều này khẳng định chiến lược tổng quát của ông là đúng. Ông đạt được những gì mà lực lượng ở Việt Nam không đạt được, tức là chiến lược dụ địch ra bãi trống cho Không Quân tiêu diệt. Chỉ tại Lào chiến tranh tiêu hao nghiêng lợi thế về phía Mỹ, khác hẳn với Việt Nam. Ở Việt Nam, lực lượng Mỹ rất khó xác địch vị trí địch, chưa nói đến tiêu diệt địch. Với Shackley, bước kế tiếp là dụ những đơn vị lớn hơn của địch ra bãi trống. Shackley tạo áp lực với Lair và Vang Pao tổ chức những đơn vị cấp trung đoàn để dụ những đại đơn vị địch.

  Vang Pao rất thán phục sức mạnh Không Lực Mỹ của Secord. Ông tin rằng Secord có phù phép hô phong hoán vũ và gọi ông là đại tá Dick, dù Secord chỉ mới lên chức thiếu tá. Vững tin Secord luôn nắm Không Lực vô biên Mỹ, Vang Pao thành lập trung đoàn đầu tiên, trung đoàn 21 biệt kích. Nhiều trung đoàn khác cũng được thành lập tiếp theo, biến quân đội Hmong thành đạo quân lớn hơn.

  

Không Lực Hmong

Phi công T-28 Hmong

  Sự khâm phục về không lực Mỹ của Vang Pao khiến ông thuyết phục Lair thành lập binh chủng Không Quân Hmong, đồn trú tại Long Cheng và dưới quyền chỉ huy của ông. Lair cũng muốn như vậy. Một cách ngấm ngầm, ông đã chuẩn bị cho dự định ấy. Từ năm 1966 ông đã huấn luyện một số nhỏ phi công Hmong với một số huấn luyện viên thuộc Không Lực Thái Lan. Đến mùa Hè năm 1967, ba nhóm Hmong đã được tuyển chọn tập huấn Piper Cubs và Cessna-180. Lair muốn họ theo học ở Trung Tâm huấn luyện Waterpump, một cơ sở thiết lập năm 1964 ở Udorn chuyên huấn luyện các phi công cho quân lực Hoàng Gia Lào.

  Đầu tiên, bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Hoàng Gia Lào làm ngơ trước thỉnh cầu của Lair, với định kiến Waterpump thuộc về công việc dành riêng cho sắc tộc Lào. Nhưng Lair không chịu thua. Cuối năm 1967, Hmong bắt đầu trở nên các khóa sinh trong chương trình tập huấn ở Waterpump, học lái khu trục cơ T-28, loại phi cơ chủ lực của Không Quân Hoàng Gia Lào. Cho đến tháng Giêng năm 1968, khóa tốt nghiệp đầu tiên người Hmong đã đến Long Cheng nhận máy bay của họ. Cuối cùng hơn một trăm Hmong tốt nghiệp phi công, một số được Secord tự mình huấn luyện trong những giờ rảnh rang để thư giãn sau những giờ chính thức đầy căng thẳng ở trụ sở AB-1. Tại Long Cheng, phi đoàn nhỏ bé của Vang Pao tiếp tục phát triển để đón nhận những tân phi công, từ vài chiếc T-28 đến hơn 60 chiếc năm 1971.

  Phi công Hmong có nhiều đức tính. Họ giỏi và can trường, nhưng đức tính quý giá nhất là lúc nào cũng sẵn sàng. Khẩu hiệu của họ là “bay cho đến khi tử trận”, một câu nói khoa trương trong lúc hừng chí của Vang Sue, một sĩ quan cao cấp thốt ra trong dịp một nhân viên CIA đến thanh sát Long Cheng rằng ông sẽ bay cho đến khi nào chết. Khẩu hiệu không quá cường điệu. Các Ravens ( phi công tiền sát Không Lưu người Mỹ) chỉ bay trong nhiệm kỳ 6 tháng rồi nghỉ. Riêng phi công Hmong không có nhiệm kỳ phục vụ. Một khi họ bắt đầu bay, họ bay cho đến chết hoặc cho đến khi chiến tranh chấm dứt. Thỉnh thoảng khi máy bay thuộc Không Lực hay Hải Quân Mỹ đình hoãn vì thời tiết xấu hoặc bận rộn vì những mục tiêu cấp bách ở chỗ khác, Vang Pao luôn trông cậy vào những “ông Phật Trắng”, danh hiệu truyền tin của các phi công Hmong ở Long Cheng.

  

Rã Ngũ Tại Nam Bac

  Tháng Giêng năm 1968, Quân Đội Hoàng Gia Lào đánh trận đánh lớn cuối cùng của cuộc chiến. Trận đánh diễn ra ở căn cứ du kích CIA nằm phía cực Bắc Quân Khu 1, gần biên giới Bắc Việt.

  CIA đã ở Quân Khu một từ năm 1960, nhưng mãi đến năm 1964 họ mới thực sự quan tâm đến khu vực và bổ nhiệm nhiều nhân viên đến đấy. Tony Poe đến Quân Khu một vào cuối năm 1965 dưới lịnh thuyên chuyển của Lair nhằm tránh xung đột nội bộ. Poe và Vang Pao không hòa thuận với nhau. Cả hai bất đồng về chiến thuật quân sự và huấn luyện quân sĩ. Sau một cuộc cãi lẫy to tiếng, Poe cắt đứt lương thực và quân viện cho Long Cheng để cho Vang Pao biết ai là người nắm quyền.

  Nguyên nhân thầm kín của sự căng thẳng là bất mãn của Poe với cung cách chính trị của Vang Pao. Poe biết Vang Pao ăn bớt tiền lương binh sĩ và dành riêng những cấp bậc, chức vụ tốt nhất cho các thị tộc mạnh, nhiều uy thế. Poe nghĩ Vang Pao nên chuyên tâm vào quân sự và tránh xa chuyện chính trị. Poe không biết rằng không có những thủ đoạn bao che, ưu đãi và các bổng lộc khác, cuộc chiến đấu của Hmong chỉ trong một đêm là tan thành mây khói.  Nhưng Lair hiểu Vang Pao. Và do đó Poe phải đi. Lair đẩy Poe sang Quân Khu 1 (Vang Pao ở Quân Khu II), một nơi gọi là Nam Yu thay chân một CIA mới vừa tử trận. Nam Yu là một nơi khỉ ho cò gáy, xa hẳn các hoạt động quân sự chính. Ở đó, Lair hy vọng sẽ không bao giờ gặp lại Poe nữa.

  Về phần Poe cũng hài lòng rời bỏ Long Cheng, nơi ông cho là nhũng lạm chính trị. Chỉ mình ông cũng có thể điều hành một chương trình chống Cộng “sạch”, nghĩa là phi chính trị và liêm chính. Ông miệt mài với công việc, mộ quân từ các bộ tộc Yao, Khmu và Lu quanh vùng. Chỉ đến đầu năm 1967, Poe đã huấn luyện và trang bị cho ba tiểu đoàn biệt kích chuyên đánh phá tuyến hậu cần Bắc Việt.

  

Tony Poe

  Nhằm khích lệ tinh thần binh sĩ, Poe treo giải thưởng 5000 kip cho mỗi cặp tai xẻo từ xác binh sĩ địch, bất kể Pathet Lào hay Bắc Việt. Ông giữ những chiếc tai này trong túi nhựa lớn ngày càng đầy trong văn phòng. Ông thỏa mãn với thành quả rõ rệt ấy cho đến khi ông gặp một đứa trẻ địa phương cụt cả hai tai. Ông khám phá ra rằng cha đứa bé cắt tai con mình lấy tiền thưởng. Ngay lập tức, ông chấm dứt vụ treo giải thưởng.

  Poe cũng may mắn trong một chiến dịch giải phóng Nam Tha, chỉ huy sở tiểu đoàn 402 Pathet Lào. Các viên chức cao cấp trong chính quyền Vientaine có bà con ở đấy và muốn được giải cứu. Biệt kích của Poe tràn ngập và chiếm đóng thị trấn 6 ngày, đủ để di tản mọi người. Chiến dịch nâng cao uy thế của Poe với chính phủ Lào, nhưng không đối với Lair, kẻ muốn Poe càng bớt dính líu đến chiến tranh càng tốt.

  Chiến dịch của Poe ở Nam Yu quá nhỏ so với mạng lưới CIA xa hơn về hướng Đông thị trấn Nam Bac. Shackley có bảy nhân viên ở đấy, luôn bận rộn tổ chức các đơn vị cấp tiểu đoàn nghênh chiến với Cộng Quân – một phần trong tổng kế hoạch phát triển quân số các đơn vị bán quân sự lên cấp trung đoàn.

  Trưởng toán CIA ở Nam Bac là Eli Popovich, một nhân viên dã chiến (phục vụ công tác dã ngoại) nhiều kinh nghiệm về hoạt động bán quân sự tại Miến Điện, Đại Hàn và Trung Quốc. Popovich và toán của ông tuyển mộ, huấn luyện đủ người Khmu cho vài tiểu đoàn biệt kích. Popovich phái một trong các tiểu đoàn đến Hua Hin thụ huấn khóa học đặc biệt chuyên tấn công phá hoại tuyến hậu cần địch.

  Các cuộc tấn công quá gần biên giới Việt Nam. Một tiểu đoàn công binh Bắc Việt đến và bắt đầu làm đường lộ dẫn từ biên giới đến thẳng bộ chỉ huy của Popovich. Các tiểu đoàn bộ Bắc Việt nối tiếp theo sau, đóng dã ngoại phía Bắc và Đông Nam Bac, kéo dài thời gian cho đến khi con đường hoàn tất để có thể tấn công các căn cứ biệt kích CIA.

  Tháng Bảy, các tiểu đoàn Bắc Việt đột ngột rẽ khỏi Nam Bac trực chỉ Luang Prabang. Chỉ năm tháng trước Bắc Việt nã súng cối vào phi trường đế đô này, phá hủy sáu chiếc khu trục cơ T-28. Lần này Cộng quân lại tấn công phi trường, phá hủy 12 máy bay, một phần ba số máy bay của Không Lực Hoàng Gia Lào. Không lực Mỹ tách ra một phần oanh tạc cơ trong chiến dịch Sấm Rền (Rolling Thunder) và đẩy lui địch.

  Lo ngại Cộng Quân tấn công lần thứ ba, các tướng lãnh Vientaine đặt kế hoạch huy động một lực lượng cơ động lớn đến thung lũng Nam Bac ngăn chận các hoạt động quân sự Bắc Việt. CIA khuyến cáo không nên thực hiện kế hoạch này, viện lẽ Quân Đội Hoàng Gia không thể đảm đương công tác hậu cần cho một lực lượng quá xa về hướng Bắc. Không tránh khỏi thất thoát trên đường tiếp tế vì trong quá khứ, hàng quân dụng đến mặt trận rất ít vì ăn cắp.

  Các tướng lãnh làm ngơ tệ trạng này và tiếp tục tiến hành. Vài tháng sau, hàng ngàn binh sĩ chính phủ tràn vào thung lũng Nam Bac, gạt lực lượng biệt kích Popovich qua một bên. Bắc Việt cũng gia tăng dồn quân, đại đội với đại đội, tiểu đoàn với tiểu đoàn. Đến tháng Giêng năm 1968, hầu như hoàn toàn sư đoàn 316 tề tựu trong khu vực, nhờ vào con đường mới hoàn tất.

  Trong bấn loạn, Vientaine không vận tất cả lực lượng trừ bị đến thung lũng Nam Bac. Một công điện khẩn cấp gửi đến Vang Pao yêu cầu cứu viện. Trong một tấn tuồng ngoại giao, Vang Pao phái một lực lượng gồm 3000 biệt kích, kể cả tiểu đoàn thiện chiến nhất của ông do Lo Va Tong chỉ huy. Quân tăng viện Hmong đến quá trễ. Từ lâu, trọng pháo Cộng Quân đã đổ mưa thép xuống Nam Bac không lúc nào ngớt. Rồi Bắc Việt chọc thủng phòng tuyến. Binh sĩ Lào bỏ chạy hàng loạt. Khi quân Hmong đến gần trận địa, họ gặp từng đợt, từng đợt sóng quân đội Hoàng Gia trên đường tháo chạy.

  Chỉ một đơn vị quân đội Hoàng Gia giữ vững phòng tuyến. Tiểu đoàn 99 dù, hỗn danh Hắc Hổ. Là lực lượng cứu viện vào phút chót, họ đến Nam Bac vừa lúc Cộng Quân chọc thủng phòng tuyến. Không ai báo cho tiểu đoàn rút lui. Họ bị bao vây trong biển Cộng Quân. Trong một dũng cảm hiếm hoi của quân lực Hoàng Gia, tiểu đoàn Dù 99 Hắc Hổ xáp chiến và chiến đấu cho đến người cuối cùng.

  Cuộc tàn sát chỉ mới bắt đầu. Các đơn vị Bắc Việt đã mai phục một lực lượng chận đường rút lui.  Các tiểu đoàn Cộng Quân khác cũng ập lại cạnh sườn theo binh pháp cổ điển. Nhiều tiểu đoàn Hoàng Gia bị tiêu diệt hoàn toàn. Số còn lại tổn thất hơn 50/100.

  Tàn trận đánh, một lực lượng gần 20000 binh sĩ còn lại chỉ một nửa. Cộng Quân tịch thu được 170 vũ khí hạng nặng, trong đó có 6 khẩu đại bác 105 ly và hàng tấn đạn dược. Ngoài ra, họ bắt được 3000 tù binh. Các tù binh được chọn lựa một trong hai: làm tù binh bị cưỡng bách khổ sai hoặc gia nhập Cộng Sản Pathet Lào. Có hơn 600 tù binh gia nhập Pathet Lào đồn trú tại cánh Đồng Chum.

  Hmong cũng bị bao vây nhưng họ phá vỡ vòng vây dễ dàng với tổn thất 300 binh sĩ, trong đó có 70 binh sĩ thuộc tiểu đoàn thiện chiến của Lo Va Tong. Tất cả hy sinh cho một nguyên nhân không đáng.

  Với sự thất trận Nam Bac và tổn thất lớn lao của Quân Lực Hoàng Gia Lào, không còn gì ngăn cản Cộng Quân thẳng tiến đến Luang Prabang. Tâm trạng Vientaine là cuộc tấn công cuối cùng của Cộng Quân chiếm đoạt cả nước. Washington trù liệu kế hoạch sử dụng B-52, nhưng sau cùng hủy bỏ vì sợ báo chí tố giác leo thang chiến tranh. Sự bấn loạn bớt đi khi sư đoàn 316 rẽ về phía Đông vào Sầm Nứa thay vì tiến xuống Nam vào Luang Prabang. Lúc này chưa ai biết sư đoàn 316 đang phối hợp với các đơn vị khác, xúc tiến trận đánh chiếm một đài radar chiến lược tối quan trọng ở một cứ điểm Momentum cũ trên đỉnh núi Pha Thi.

  

Thất Thủ Pha Thi

  Đầu năm 1964, tổng thống Johnson chấp thuận những cuộc oanh tạc Bắc Việt. Ông muốn nới rộng quy mô các cuộc không kích nhưng cần một viện cớ. Viện cớ xảy ra vào tháng Tám năm 1964 khi các tiểu đĩnh phóng ngư lôi Bắc Việt tấn công các khu trục hạm hải quân Mỹ ở vịnh Bắc Bộ. Chỉ ba ngày sau sự kiện ấy, quốc hội biểu quyết thông qua “Nghị quyết vịnh Bắc Bộ” cho phép tổng thống dùng mọi biện pháp cần thiết để phòng thủ Nam Việt trưóc sự gây hấn võ trang của Bắc Việt. Vài tháng sau Johnson ra lịnh oanh tạc thêm những mục tiêu ở miền Bắc, từ từ leo thang chiến tranh. Chiến tranh oanh tạc Bắc Việt nhảy vọt một bước cao vào đầu năm 1965 với chiến dịch Rolling Thunder (Sấm Rền). Đến cuối năm đầu tiên của cuộc oanh tạc, các chiến đấu cơ, oanh tạc cơ (kể cả B-52, oanh tạc cơ chiến lược) đã thực hiện hơn 12 ngàn phi xuất mỗi tháng, chủ yếu trên khu vực nam Bắc Việt (miền Trung).

  Để cung cấp radar cho các cuộc không tập, không quân Mỹ thiết lập các hệ thống kiểm không chiến thuật ở Nam Việt gồm Cần Thơ và núi Khỉ ở Đà Nẵng. Khi quy mô cuộc chiến phát triển, không tiêu chiến thuật (tactical navigation) tối tân được triệu dụng. Mệnh danh radar MSQ-77, hệ thống không tiêu mới cung ứng sự chính xác hơn trong những cuộc không tập đêm và thời tiết xấu. Giữa tháng Tư năm 1966 và tháng Tư năm 1967, không quân xây cất 6 hệ thống radar mới: 4 trải dài khắp Nam Việt (Biên Hòa, Đà Lạt, Pleiku và Đông Hà) và hai cái nữa ở Nakhon Phanom, căn cứ không quân Udorn, Thái Lan. Tầm hoạt động của radar là 100 dặm (một dặm là 1609 mét), mạng lưới radar này cung cấp hướng dẫn không lưu toàn cõi Nam Việt, một phần lớn Lào và 1/3 phần nam Bắc Việt (tức miền Trung)

  


Lima Site 85 hay đài radar Phou Pha Thi
Hình của Trung Tá Jeannie Schiff Không Quân Hoa Kỳ

  Để cho radar vươn xa hơn về hướng Bắc, không quân tìm những địa thế thích hợp ở Bắc Lào để đặt thêm một MSQ-77 cho phép oanh tạc cơ Mỹ có thể tấn công tới Hà Nội, ngày, đêm dưới bất kỳ điều kiện thời tiết nào. Đài radar ở Udorn cách tòa nhà AB-1, bộ chỉ huy của Lair một đỗi bước. Các chiến lược gia không quân thường đến đấy để hội ý với Lair. Lair đề nghị họ đặt một radar trên đỉnh Phu Pha Thi, một trong những ngọn núi cao nhất tỉnh Sầm Nứa. Cao hơn một dặm, với triền dốc thẳng đứng và một chóp nhọn hoắt, đỉnh núi rất khó tấn công và nó ở trong vùng của Hmong với các căn cứ Momentum lân cận. Lair cam kết với các tham mưu không quân rằng người của ông có thể dàn dựng một phòng thủ nếu cần.

  Trực thăng chuyển 150 tấn thiết bị từ Udorn đến đỉnh Pha Thi. Giàn radar mới được gọi là TACAN (Tactical Air Control and Navigation). Nó khá hiện đại nhưng chưa hẳn là tối tân lắm. Giưa năm 1967 không quân muốn nâng cấp TACAN trên đỉnh Pha Thi thêm một hệ thống TSQ-81 để đạt được chính xác hơn nữa. Không quân mời Lair tham dự một buổi họp tham mưu. Lúc này ông đã nghĩ lại về Pha Thi. Cách biên giới Bắc Việt chỉ 17 dặm, nếu radar bắt đầu được đem vào sử dụng, Bắc Việt sẽ tìm cách tiêu diệt. Viễn ảnh biệt kích Hmong cố thủ chống lại một trung đoàn Bắc Việt thật không hấp dẫn. Lair cho rằng kế hoạch hoàn toàn bất lợi. Các tướng lãnh không quân không đếm xỉa ý kiến ông.

  Pha Thi trên bản đồ hành quân của CIA có tên là Lima site 85. Không quân coi nó là một trung tâm không tiêu AN-MSQ-77. Với Hmong, nó được gọi là Núi Đá, một ngọn núi mọc lên giống như một lính gác khổng lồ trên miền đất phì nhiêu trồng trọt thuốc phiện ở Lào. Dân Hmong rải rác các đồi núi , cung cấp tin tình báo và mạng lưới phòng thủ đài radar cho Vang Pao khỏi các cuộc đột kích dự kiến. Khác với Lair, Vang Pao tin tưởng quân sĩ của ông có thể chống chỏi được một cuộc hiệp đồng tấn công.

  Như Lair đã lo ngại, một khi hàng tấn bom bắt đầu trút xuống Bắc Việt, đài radar này sẽ nằm trên đầu danh sách mục tiêu của Bắc Việt. Bắc Việt trù hoạch cuộc tấn công đỉnh Pha Thi trùng hợp với cuộc Tổng công kích tết Mậu Thân ngày 31 tháng Giêng. Nếu radar bị triệt hạ và các oanh tạc cơ Mỹ buộc phải bay không hướng dẫn, Mỹ khó có thể chặn đứng được dòng vũ khí, đạn dược từ Bắc Việt tuôn đổ vào các lực lượng của họ khắp thành phố và căn cứ quân sự Nam Việt.

  Công binh Bắc Việt bắt đầu làm đường chạy từ Sầm Nứa đến Pha Thi. Secord (sĩ quan không quân biệt phái sang CIA) phát giác sự kiện này khi điều nghiên các không ảnh. Ông thấy ngay sự nguy hiểm, không chỉ cho những cuộc không tập Bắc Việt (đài radar Pha Thi hướng dẫn một phần tư con số phi vụ oanh tạc Bắc Việt, mà còn cho cả chiến lược không yểm lực lượng bộ chiến Vang Pao. Cuộc không tập đột ngột mùa mưa 1967 chặn đứng mọi giao thông quân sự của bắc Việt trên lộ 6 và 7, tiêu diệt các cứ điểm tập trung quân Bắc Việt ở Sầm Nứa là nhờ vào radar ở Pha Thi.

  Secord báo cáo với Shackley (Giám Đốc Phân Bộ CIA tại Lào) việc khám phá con đường công binh Bắc Việt đang làm. Shackley ra lịnh cho Secord hủy diệt nó. Hầu như mỗi ngày Secord yêu cầu bên Không quân cung cấp những phi vụ oanh tạc nhưng được trả lời rằng có nhiều mục tiêu ưu tiên hơn. Ông chỉ được vài phi xuất lẻ tẻ. Các phản lực cơ phá hủy máy úi đất và làm sụp lở con đường, nhưng các xe cơ giới công binh vẫn tiếp tục làm đường dẫn đến Pha Thi với nhịp độ một cây số một ngày.

  Hai tuần trước cuộc Tổng công kích Mậu Thân, ba máy bay Sô Viết (cánh có hai tầng, Antanov AN Colts) do phi công Bắc Việt lái, vượt biên giới, chúi xuống từ những đám mây tấn công đài radar Pha Thi . Một quà tặng của Sô Viết, máy bay cổ này trước đây được dùng trong những mục đích không chiến đấu. Năm 1961, một Antanov chở đại tá Lawrence Bailey Jr., tù binh đầu tiên ở Lào từ phi trường Xieng Khoang đến bộ tư lịnh lực lượng Pathet Lào ở Sầm Nứa. Cuộc tấn công Pha Thi là vụ không kích đầu tiên của loại máy bay này.

  Khi các phi cơ Bắc Việt vần vũ trên không phận đài radar, các phi công phụ ló ra khỏi cửa sổ bắn đại liên vào đài. Đợt thứ nhì họ ném các đầu đạn súng cối được thiết kế như những trái bom. Đài radar không hề hấn nhưng đạn và bom sát hại hai phụ nữ và hai binh sĩ Hmong.

  Một trực thăng Mỹ cất cánh nghênh chiến. Một viên phi công phụ ló ra khỏi cửa trực thăng dùng tiểu liên Uzi bắn vào một máy bay Bắc Việt. Chiếc Colt xấu số lảo đảo rồi rớt. Hai chiếc Colt còn lại vội bay về biên giới Lào Việt với chiếc trực thăng không võ trang bám đuổi. Khoảng 18 dặm chiếc Colt thứ nhì cũng rơi xuống đất. Sau một loạt thao diễn tránh né, chiếc thứ ba đụng vào núi. (*)

  Nếu những chiếc Colts này đánh trúng đài radar, Bắc Việt đỡ tốn xương máu cho một cuộc tấn công quyết liệt. Cuộc không kích thất bại của Bắc Việt mang ý nghĩa không có một giải pháp dễ dàng. Thiếu tá Secord nhận được tin tình báo rằng hai trung đoàn Bắc Việt đang chuẩn bị tấn công. Các trung đoàn có trọng pháo nặng hơn, hiện đại hơn trọng pháo dùng ở Điện Biên Phủ.

  Đại sứ Sullivan cũng giao động nhưng không quan tâm quá đáng. Trong một báo cáo cho Hoa Thịnh Đốn, ông thú nhận “kẻ địch có khả năng di chuyển trọng pháo, súng cối vào tầm tác xạ Phu Pha Thi nhưng nhất trí rằng tại đây, mọi đề phòng thích ứng đã được khai triển phòng thủ cứ điểm". Trên thực tế, cuộc phòng ngự cứ điểm radar này không thích ứng. Vang Pao chỉ có vài trăm tay súng chia ra ở chân núi và trên đỉnh. Shackley yêu cầu chính phủ Thái Lan không vận 400 binh sĩ Thái tăng viện cho cứ điểm.

  Dù với lực lượng tăng viện, Secord tin rằng Pha Thi vẫn không thể giữ được. Mặt khác, Vang Pao lại tràn trề tin tưởng. Ông chắc chắn rằng binh sĩ của ông có thể giữ vững phòng tuyến. Một trong những đơn vị của ông trên đỉnh núi là sĩ quan Hmong tên Yang Chong Shoua năm 1963 đã biến một đơn vị dân quân tự vệ (Auto Defense de Choc) thành một lực lượng đáng nể và đánh đuổi Pathet Lào khỏi thung lũng Ban Ban hơn một năm. Vang Pao cũng ra lịnh gài mìn hai con đường dốc đứng dẫn lên núi. Ông coi đó là cái bẫy tử thần. Cộng Sản không thể vượt qua. Điều Vang Pao không biết là ngay khi chôn mìn xong, đặc công Bắc Việt đã mò đến mỗi đêm, kiên nhẫn gỡ từng trái mìn dưới sự canh gác cẩn mật của biệt kích Hmong và chuyên viên kỹ thuật Mỹ. Yên chí mìn còn ở đấy, Vang Pao cắt đặt chỉ một ít quân phòng bị hai con đường ấy.

  Khi hai trung đoàn Bắc Việt đến trong tầm tấn công Pha Thi, Vang Pao tung quân thám sát. Một trong toán thám sát phục kích một đơn vị thám sát Bắc Việt quanh châu vi chân núi. Một trong những chiến lợi phẩm tịch thu từ tử thi binh sĩ Bắc Việt là cuốn sổ tay có bản đồ kế hoạch tấn công, gồm cả những vị trí trọng pháo.

  Secord có những thông tin cần để triệt hạ hỏa lực địch. Ông biến những vị trí trọng pháo địch thành những mục tiêu không tập. Lúc này, cuộc tổng tấn công Mậu Thân đang diễn ra toàn cõi Nam Việt nên hoả lực không tập dành mọi ưu tiên cho Việt Nam.  Từng ngày trôi qua, Bắc Việt tiếp tục dồn quân và trọng pháo gần hơn. Secord lại yêu cầu oanh tạc và lại bị từ chối. Ông càng lo ngại hơn khi không lực Mỹ chấp nhận mất cứ điểm radar này hơn là phân tán không lực. Ngày 10 tháng Ba, đại pháo 130 ly bắt đầu xạ kích đỉnh Pha Thi. Một trận mưa hỏa tiễn 122 ly, 107 ly xối vào cứ điểm. Ba tiểu đoàn Bắc Việt tiến quân lên hai con đường dẫn lên đỉnh, đã gỡ hết mìn. Ở chân núi, Bắc Việt bắt đầu trèo lên vách núi dốc đứng phía Tây đỉnh núi.

  Trong khi đạn trọng pháo rơi trên cứ điểm và lực lượng Bắc Việt tấn công lên núi, Secord cuối cùng liên lạc được với thẩm quyền cao nhất không lực Mỹ. Nhận thấy có thể mất đài radar, không quân bắt đầu hoạch định một cuộc yểm trợ không lực khổng lồ sáng hôm sau. Để cầm chân Bắc Việt đến lúc đó, các phản lực Phantom F-4 bay đến Việt Nam được chuyển hướng đến Pha Thi. Vì thời tiết xấu, các phi công khó tìm được mục tiêu và chỉ diệt được một số ít trọng pháo. Trong khi ấy, trọng pháo Bắc Việt vẫn nã lên Pha Thi.

  Lực lượng đỉnh Pha Thi gồm 200 binh sĩ vừa Thái vừa Hmong do Yang Chong Shoua chỉ huy. Họ dàn quân xuống sườn núi để đẩy lui các tiểu đoàn địch. Lúc ba giờ sáng. Hmong và Thái Lan vẫn giữ vững vị trí. Tuy nhiên khoảng 20 đặc công đã trèo lên được vách dựng phía Tây không ai hay biết.

  Trên đỉnh có 18 người Mỹ. Hai trong số là nhân viên CIA. Số còn lại là chuyên viên radar. Hai nhân viên CIA ở trong hầm của họ, cách chiếc xe van trang bị radar nơi có áu chuyên viên đang trực nhiệm. Những chuyên viên khác gồm 10 người chưa tới phiên lo tìm chỗ ngủ. Để tránh pháo kích, họ treo những lưới cẩu hàng trên mỏm nhô ra thành một mặt bằng khá rộng của bờ vách dựng phía Tây để ngủ, đúng chỗ toán đặc công trèo lên. Dù tránh được đạn pháo, nó là cái bẫy không lối thoát. Chỉ có một con đường thoát là trèo lên đỉnh. Dưới mặt bằng này là vực thẳm thẳng đứng, sâu 1400 bộ.

  Sau khi đặc công Bắc Việt hạ sát các chuyên viên đang làm việc trong xe van, họ đến cái mặt bằng kể trên, hạ sát thêm năm người bằng lựu đạn và súng cá nhân. Những kẻ sống sót nhờ nấp vào cái hang, chỗ lõm vào vách núi. Trên đầu họ, đặc công đặt một tổ đại liên, chờ những người sống sót trèo lên.

  Hai nhân viên CIA chui ra khỏi hầm lúc tảng sáng, vì lý do khó hiểu nào đó, không thấy họ. Họ leo xuống sườn núi đến một bãi đáp trực thăng cách đỉnh 300 mét, cùng với Hmong, Thái Lan chờ triệt thoái. Sau một hội ý ngắn, một trong hai CIA quyết định leo lên đỉnh xem còn ai sống sót. Yang Chong Shoua tình nguyện theo, dẫn theo 15 binh sĩ. Họ đụng phải toán đặc công (20 người) và hạ sát một. Toán trinh sát trở lại bãi đáp xác định không ai sống sót.

  Đột nhiên máy bay xuất hiện đầy trời. Một người phát biểu cảm tưởng: ”Dường như mọi máy bay khắp thế giới tụ lại đây, giống như bầy ong vỡ tổ.” Skyraiders bay thấp quanh núi và khắp thung lũng. F-4, F-105 gầm thét trên đầu, bay tứ phía. Các trực thăng võ trang xuất hiện cùng với Ravens (sĩ quan tiền sát không lưu). Có cả các máy bay tiếp xăng HC-130 trên cao chờ tiếp xăng cho các trực thăng nếu cần thiết.

  Quá nhiều chiến đấu cơ, oanh tạc cơ đến nỗi mục tiêu trở nên quá ít. Con lộ do công binh Bắc Việt xây dựng trong thời hạn hai tháng rưỡi bị hủy hoại hoàn toàn sau vài đợt không tập.Đồi núi quanh Pha Thi bốc lửa sau những cú nổ kinh hồn bởi những đợt oanh tạc không ngớt. Từ trên cao, quang cảnh giống như một kho dự trữ pháo bông bắt lửa.

  Hai Skyraider thấy đặc công Bắc Việt trên đỉnh, đi một đường xạ kích đại bác 20 ly, hỏa tiễn tiêu diệt hoàn toàn không một người sống sót. Những chuyên viên Mỹ núp trong chỗ lõm của mặt bằng nhô ra bên vách dựng ném một trái khói tím cho biết họ còn sống. Một sĩ quan tiền sát không lưu (Raven) đến điều phối cuộc cứu hộ. Nhiều Skyraiders tấn công thêm cho chắc là không còn địch trên đỉnh. Họ thả bom thường và tiếp theo là bom chùm. Nhiều ngàn bom xé nát đài radar.

  Hai trực thăng bay trên vách đá dựng trong khi phi hành đoàn dùng thang giây kéo các chuyên viên lên trực thăng. Họ cứu được bốn trong số năm người và bay mất khi có tiếng súng nhỏ bắn sẻ. Còn lại một chuyên viên tên Jack Starling một mình trên núi.

  Một trực thăng khổng lồ khác, chiếc HH-53 (một bản sao to hơn của loại rất thông dụng, Jolly Green Giant) đáp xuống bãi đáp cách đỉnh núi 300 mét để triệt thoái Hmong, Thái Lan và hai CIA. Yang Chong Shoua lôi một số xuống để cho bảy thương binh lên trước. Nhiều HH-53 hạ cánh đón số còn lại trực chỉ Na Khang.

  Mất một tiếng đồng hồ sau, một trực thăng trang bị thang giây cứu hộ đến đón Jack Starling còn trên đỉnh núi. Sau khi Jack đặt chân lên máy bay, một đại đội Bắc Việt tràn lên đỉnh.  Chỉ vài phút chậm trễ thôi, Starling đã bị giết hay cầm tù.

  Ở chân núi binh sĩ Hmong đã rút lui. Trước đó Vang Pao đã không vận hai tiểu đoàn tăng viện. Bây giờ tình trạng trở nên vô vọng, ông ra lịnh lui quân toàn bộ. Ông ra lịnh phá hủy các đại bác và kho đạn gần phi trường dưới chân núi. Xong xuôi, ông kéo quân về Na Khang.

  Pha Thi lọt vào tay địch, không quân muốn phá hủy đài radar trên đỉnh để ngăn ngừa kỹ thuật hiện đại lọt vào tay Sô Viết. Mục tiêu thứ yếu là không tập tối đa vào hai trung đoàn Bắc Việt trước khi họ phân tán. Suốt một tuần, máy bay Mỹ dội bom, xé nát tan tành ngọn núi và vùng rừng ven núi. Vô tuyến nghe được từ truyền tin Bắc Việt cho thấy sự kinh hoảng của lực lượng Bắc Việt. Một tiểu đoàn trưởng nói trong vô tuyến : “Chết hết rồi, chỉ mình tôi còn sống. Có đồng chí nào nghe tôi không? Tôi rút lui được không?”

  Cuộc oanh tạc biến khu vực thành một cảnh hoang tàn với những cây cối trốc gốc, những quả đồi mất đỉnh, thung lũng cháy thiêu và hàng ngàn xác địch. Lạ lùng, không quả bom nào trúng đài radar trên đỉnh. Trong một phi xuất cuối cùng, các Skyraiders dùng bom nặng thả trúng giàn radar. Cả đỉnh núi bị san thành bình địa.

  Sự thất thủ đài Pha Thi là một thất lợi chủ yếu cho cuộc không tập miền Bắc. Chiến dịch Sấm Rền sát hại hơn 50000 người, hủy hoại các kho nhiên liệu, các nhà máy điện, một nửa cầu, gần 10000 xe tải, 2000 toa xe lửa. Không còn radar nữa, các cuộc oanh tạc miền Bắc lại lệ thuộc vào thời tiết và không còn chính xác.

  Tổng thống Johnson tuyên bố tạm thời ngưng oanh tạc phía trên vĩ tuyến 20. Vài tháng sau Sấm Rền chính thức vị hủy bỏ. Trong 4 năm sau đó, không có máy bay oanh tạc nào trên không phận miền Bắc Việt Nam nữa.

  Phấn khởi vì chiếm được Pha Thi, Bắc Việt đem thêm quân càn quét Sầm Nứa và chiếm giữ địa hạt càng nhiều càng tối trước khi mùa mưa tới. Trong một thay đổi chiến thuật, các đơn vị Bắc Việt bắt đầu tấn công các làng mạc Hmong thuộc mạng lưới quân báo Vang Pao. Họ đánh đuổi dân làng, đốt phá vụ mùa để Hmong không còn gì quay trở lại tiếp tục sinh sống, làm tai và mắt cho các cuộc hành quân cơ động và các cuộc đột kích sau tuyến địch. Thủ đoạn tiêu thổ của Bắc Việt khiến Edgar Buell (làm việc thiện nguyện cho Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế USAID) bận rộn tìm kiếm những người tị nạn lang thang trong rừng, thả dù tiếp tế nhu yếu phẩm và cuối cùng không vận họ đến trung tâm tị nạm ở Sam Thong.

  Một phần của cuộc tổng tấn công là đánh chiếm Na Khang, nơi còn lại duy nhất một hệ thống không tiêu chiến thuật ở Bắc Lào. Gần cuối tháng 4 năm 1968, 5 tiểu doàn Bắc Việt bao vây cứ điểm. Trong đồn là 1500 binh sĩ thiện chiến nhất của Vang Pao, mỗi ngày quan sát bầu trời tìm máy bay yểm trợ.

  Thật là mỉa mai, mất Pha Thi rồi thì Secord dư giả không lực hơn trước.  Cuộc ngưng oanh tạc miền Bắc khiến các cuộc hành quân khác thừa thãi yểm trợ không lực và Secord nắm được khá nhiều lực lượng không quân cho quân khu II của ông. Dĩ nhiên một khi đài radar Pha Thi không còn nữa, Secord không thể cung cấp tin tức thời tiết cũng như mục tiêu chính xác như trước, nhưng ông có thể tấn công khốc liệt hơn với nhiều phi xuất hơn, khi thời tiết cho phép.  Bầu trời trên Na Khang đã mù mịt hàng tuần không cho phép không yểm gần (close air support). Đột nhiên các đám mây mù biến mất. Từ Long Cheng, các Ravens (sĩ quan tiền sát không quân) bay bằng phi cơ Cesnas lựa chọn mục tiêu cho các oanh tạc cơ đến từ Thái Lan. Vì quá nhiều phi cơ nên các phi đội phải xếp thành nhiều tầng ở một phi trường dân sự bên Thái Lan lúc thời tiết xấu, chờ lượt tấn công.

  Các phi công làm việc với lòng cương quyết , đánh phá mọi vật di chuyển, khởi động từ mối hận mất Pha Thi. Cuộc tấn công kéo dài hơn một tuần, đợt này đến đợt khác. Một tiểu đoàn Bắc Việt hoàn toàn bị tiêu diệt. Các tiểu đoàn khác thiệt hại khủng khiếp. Cộng Sản bỏ cuộc bao vây và rút lui.

  


Một phi công Thái Lan lái T-28.

   B-Team được thành lập trong dự án Đom Đóm (Project Firefly) tháng Năm 1964.  Phi công Thái bay phần lớn cho Không Lực Hoàng Gia Lào cho đến khi chương trình bị ngưng vào năm 1973.  Mỗi phi công biệt phái phải bay sáu tháng hoặc 100 phi vụ.  Phi công này ăn mừng phi vụ thứ 100 vào năm 1966. Ảnh chụp bởi Ken Conboy trong bộ sưu tập của Albert Grandolin.

  


Không cảnh Thái Lan PARU với Trung Úy Gary Boros

  (*): Đại Úy Ted Moore Air America lái UH-1D Huey.  Phi công phụ Glenn Woods bắn AN-2 Colt bằng AK-47. Xem nguồn từ CIA. ~neofob