BỨC TƯỜNG SỤP ĐỔ

  Hôm đó là ngày 10 tháng 10, năm 1989, vị đại sứ Hoa Kỳ ở Liên Xô, ông Jack Matlock, đang giới thiệu tôi với một cử toạ gồm những kinh tế gia và chủ ngân hàng tại Dinh Thự Spaso, nơi cư ngụ của đại sứ tại Moscow. Nhiệm vụ của tôi là giải thích tài chính tư bản. Dĩ nhiên, tôi không có ý niệm là sau đó một tháng, Bức Tường Bá Linh sẽ sụp đổ, hay sau đó hơn hai năm, Liên Xô cũng mất theo. Tôi cũng không biết là mình sẽ là nhân chứng của một biến cố rất hiếm hoi vài năm sau khi khối Đông Âu sụp đổ, đó là kinh tế thị trường cạnh tranh mọc lên từ những đống tro tàn của kinh tế tập trung. Trong diễn tiến này, cái chết của hoạch định tập trung đã phơi bầy những thối rữa tích tụ trong nhiều thập niên với tầm xa có thể nói là không thể tưởng tượng được. Nhưng điều ngạc nhiên lớn nhất chờ đợi tôi là bài giảng siêu việt về nguồn cội của thị trường tư bản. Dĩ nhiên, tôi không lạ gì với cái thị trường này, nhưng sự hiểu biết về những nền móng của nó thì hoàn toàn trừu tượng. Tôi được đào tạo trong một nền kinh tế thị trường tinh vi với nhiều luật pháp, tổ chức, và quy tắc hỗ trợ đã có từ lâu và chính chắn. Những biến đổi mà tôi sắp sửa được quan sát ở Nga Sô đã từng xẩy ra trong nền kinh tế Tây Âu bao nhiêu năm trước khi tôi ra đời. Trong khi Nga Sô đang vất vả hồi phục từ đổ nát của tất cả cơ sở liên quan đến Liên Xô cũ, tôi có cảm tưởng như là một bác sĩ về thần kinh đang học hỏi bằng cách quan sát một bệnh nhân hoạt động ra sao với một phần não bộ bị tê liệt. Đối với tôi, theo dõi thị trường cố gắng hoạt động trong khi không có sự bảo vệ quyền tư hữu hay truyền thống tin nhau thì quả là một kinh nghiệm hoàn toàn mới mẻ.

  Nhưng đó là chỉ là những viễn ảnh sau này lúc tôi đối diện với trên dưới trăm người tại Dinh Thự Spaso. Tôi tự hỏi họ đang nghĩ gì và làm sao tôi với đến họ được? Họ là những sản phẩm đào tạo của Liên Xô và được rèn luyện nặng nề với chủ nghĩa Mác. Họ biết gì về những tổ chức tư bản hay thị trường cạnh tranh? Khi nói chuyện với cử tọa Tây Âu, tôi có thể đo lường sự chú ý hay trình độ kiến thức của họ để điều chỉnh bài nói của tôi. Nhưng ở Dinh Thự Spaso, tôi phải đoán mò. Bài nói chuyện của tôi khô khan và qua loa về ngân hàng và kinh tế thị trường. Nó đề cập đến những chủ đề như giá trị của tài chính trung gian, rủi ro mà ngân hàng thương mại phải đối phó, lợi hại của luật lệ, và nhiệm vụ của ngân hàng trung ương. Buổi nói chuyện tiến hành rất chậm vì tôi phải ngừng sau mỗi đoạn để thông dịch viên dịch ra tiếng Nga.

  Tuy thế mà cử tọa lại rất chú ý, mọi người đều tỉnh táo trong xuốt buổi họp, vài người còn loáy hoáy ghi chép. Nhiều bàn tay dơ lên khi tôi chấm dứt và Đại Sứ Matlock mở đầu phần hỏi đáp. Điều ngạc nhiên và thích thú với tôi là cuộc thảo luận trong nửa giờ sau đó cho biết là vài người hiểu tôi nói gì. Những chi tiết của câu hỏi làm tôi giật mình vì nó thổ lộ sự hiểu biết của họ về chủ nghĩa tư bản.

  Người mời tôi đến diễn thuyết là ông Leonid Abalkin, phó thủ tướng chịu trách nhiệm về cải tổ. Trước đó, tôi đoán buổi họp hôm ấy phần nhiều chỉ về nghi thức, nhưng hoá ra lại trái hẳn. Là một kinh tế gia hàn lâm trạc cuối ngũ tuần trong nội các cải cách của Gorbachev, Abalkin có tiếng là uyển chuyển về chính trị và có duyên. Khuôn mặt dài làm ông ta như lúc nào cũng lo âu. Nếu quả vậy thì có nhiều lý do khiến ông ta có khuôn mặt đó. Mùa Đông đã đến, có nhiều tin đáng lo ngại về thiếu điện và thực phẩm, Gorbachev bàn công khai về nổi loạn, và phó thủ tướng mới xin quốc hội quyền khẩn cấp cấm đình công. Perestroika, chương trình bốn năm cải tổ kinh tế tham vọng của Gorbachev có cơ xụp đổ. Tôi cảm thấy Abalkin có nhiều việc phải làm vì xếp của ông hiểu biết quá ít về guồng máy thị trường.

  Ông Abalkin hỏi ý kiến tôi về một dự định mà nhiều thiết kế gia Liên Sô đề cao. Đó là chương trình chống lạm phát dựa vào chỉ số, nghĩa là định lương theo giá cả để trấn an dân chúng là khả năng mua bán của đồng lương họ sẽ không bị phá. Tôi nói qua cho ông ta biết rằng chính phủ Hoa Kỳ vẫn còn đang chật vật trang trải phí tổn vì chỉ số hóa những phúc lợi an sinh và theo quan điểm vững chắc của tôi, chỉ số chỉ là một cách chữa tạm thời, về trường kỳ, cách chữa này có thể gây ra nhiều rắc rối lớn lao hơn nữa. Abalkin không tỏ vẻ ngạc nhiên. Ông nghĩ sự chuyển tiếp từ hoạch định tập trung rườm rà sang thị trường tư, cái mà ông gọi là “hình thức chế ngự sinh hoạt kinh tế dân chủ nhất”, cũng phải mất nhiều năm.

  Những chủ tịch FR trước cũng từng mạo hiểm qua bên kia bức màn sắt - cả Arthur Burns và William Miller đã đến Moscow vào thời gian hoà hoãn ở thập niên 70 – nhưng tôi biết họ chưa bao giờ có một buổi nói chuyện như thế. Trong những năm đó, chẳng có gì nhiều để bàn luận vì phân chia ý thức hệ và chính trị giữa kinh tế tập trung của khối Liên Sô và kinh tế thị trường bên Tây Âu quá rộng lớn. Tuy vậy, cuối thập niên 1980 đem lại nhiều thay đổi đáng kể, hầu hết ở Đông Đức và các nước chư hầu hoặc ở ngay trong Liên Sô. Mùa xuân năm đó, Ba Lan tổ chức bầu cử tự do đầu tiên và những biến cố sau đó làm cả thế giới ngạc nhiên. Thứ nhất, nghiệp đoàn Solidarity (tạm dịch là Liên Kết) thắng Đảng Cộng Sản dễ dàng, sau đó, thay vì gửi Hồng Quân để lấy lại quyền kiểm soát, Gorbachev tuyên bố chấp thuận kết quả bầu cử. Gần đây, Đông Đức bắt đầu tan rã với vài chục ngàn người lợi dụng sự mất kiểm soát của chính phủ di cư bất hợp pháp sang Tây Đức. Và vài ngày trước khi tôi đặt chân đến Moscow, Đảng CS Hung Gia Lợi từ bỏ chủ nghĩa Mác để theo chủ nghĩa dân chủ xã hội.

  Chính Liên Sô cũng trong cơn sốt. Giá dầu xụp đổ vài năm trước đã xoá hẳn nguồn tăng trưởng duy nhất và hiện giờ không có gì để bù đắp cho ứ đọng hàng hóa và dịch tham nhũng lan tràn trong thời Brezhnev. Chiến tranh lạnh làm cho tình trạng còn tệ hơn nữa với áp lực gây ra bởi gia tăng vũ khí về phía Hoa Kỳ dưới thời Tổng Tống Reagan. Ngoài mất ảnh hưởng trên các nước chư hầu, Liên Sô còn bị một vấn nạn nữa là dân chúng không đủ ăn và nhờ nhập cảng cả triệu tấn ngũ cốc từ Tây Âu, họ mới có bánh mì bán trên quầy hàng. Chính phủ không kiểm soát nổi lạm phát, đó là điều lo âu chính của Abalkin. Chính mắt tôi thấy người ta xếp hàng dài trước cửa tiệm nữ trang để mong đổi tiền sang những hàng hóa có giá trị vững vàng, và nghe nói chỉ đổi được một lần mỗi khi xếp hàng.

  Dĩ nhiên, Gorbachev, Tổng Bí Thư Đảng CSLX vẫn xúc tiến nhanh chóng để cởi trói cho hệ thống kinh tế và đảo ngược tình trạng xuống dốc này. Điều làm tôi nhạc nhiên là Gorbachev là người rất thông minh và cởi mở, mặc dù vì sự thông minh và tính cởi mở đó mà ông gặp nhiều trở ngại. Ông không thể làm ngơ trước những mâu thuẫn và dối trá mà hệ thống tạo ra cho ông từ ngày này qua ngày khác. Ông đã trưởng thành dưới thời Staline và Khrushchev, ông đã chứng kiến xứ sở của ông dậm chân tại chỗ và lý do tại sao làm ông mất niềm tin.

  Điều ngạc nhiên lớn nhất với tôi là tại sao Yuri Andropov, vị TBT bảo thủ trước Gorbachev, đã đề cử ông ra. Gorbachev không cố tình làm Liên Xô sụp đồ mặc dù ông ta không ra tay để ngăn ngừa sự đổ vỡ này. Không như những người tiền nhiệm, ông ta không gửi quân đến Đông Đức hay Ba Lan khi những nước này tiến về huớng dân chủ. Chính ông ta là người chủ trương nước Nga phải đóng một vai trò quan trọng trong mậu dịch thế giới; ông ta không thể không hiểu ngầm điều đó có nghĩa là theo chủ nghĩa tư bản, mặc dù chính ông cũng không hiểu gì về guồng máy thị trường chứng khoán và hệ thống kinh tế Tây Âu.

  Chuyến thăm viếng của tôi gắn liền với cố gắng gia tăng của Washington để khuyến khích dân Liên Xô có đẩu óc cải tổ dưới chính sách cởi mở của Gorbachev. Thí dụ như ngay sau khi mật vụ Nga cho phép dân chúng tụ họp ban tối, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ bắt đầu hàng loạt những buổi thảo luận để các sử gia, kinh tế gia, và khoa học gia trong nước có thể tham dự với các đồng nghiệp Tây Âu về các chủ đề từng bị cấm trước đây như chợ đen, vấn nạn môi trường ở những nước nam Liên Xô, và lịch sử dưới thời Stalin.

  Hầu hết lịch trình chuyến đi của tôi gồm có những buổi họp với viên chức cao cấp. Người nào cũng làm tôi ngạc nhiên về vài điểm. Mặc dù học về kinh tế thị trường tự do gần cả đời người, nhưng gặp một nền kinh tế khác trong cơn khủng hoảng làm tôi chưa bao giờ suy nghĩ thật sâu xa như vậy về nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa tư bản và sự khác biệt giữa nó với hệ thống tập trung. Ý tưởng đầu tiên về sự khác biệt này đến với tôi trong chuyến đi từ sân bay về Moscow. Khi thấy một chiếc máy cày chạy bằng hơi nước từ thập niên 1920 vẫn còn ì à ì ạch trên một cánh đồng bên đường, tôi hỏi anh cận vệ “làm sao ai mà đoán được họ vẫn còn dùng máy đó”. Anh ta trả lời “Tôi không biết, tại vì nó còn chạy được chăng?” Giống như những xe Chevrolet đời 1957 trên những con phố ở Havana, chiếc máy cày đó biểu hiệu sự khác biệt chính giữa hai nền kinh tế tập trung và tư bản: ở đây không có sự hủy hoại tái tạo, không có động lực để thúc đẩy làm những dụng cụ tốt hơn.

  Chẳng trách được hệ thống kinh tế tập trung gặp khó khăn lớn khi muốn nâng cao tiêu chuẩn đời sống và tạo nên trù phú. Sản xuất và phân phối đều bị định đoạt bởi chỉ thị nhất định từ các cơ quan kế hoạch giao cho cơ xưởng; chỉ thị nêu rõ những ai, nên nhận được bao nhiêu nguyên liệu và dịch vụ, họ nên sản xuất những gì, và những ai là người được nhận những món hàng đó. Giới lao động được xem như là hoàn toàn có việc và lương lậu được địng trước. Điều thiếu xót là dân tiêu thụ sau cùng mà trong nền kinh tế tập trung, họ được cho là chỉ thụ động ngửa tay nhận những món hàng do các cơ quan kế hoạch đặt trước. Ngay cả trong khối Nga Sô, giới tiêu thụ cũng không hành xử như vậy. Nếu không có một thị trường hữu hiệu để điều hành cái cung và cầu của người tiêu thụ, hậu quả thường là một núi hàng dư thừa không ai muốn và cái vô cùng hiếm hoi của những món hàng khác mà ai cũng thèm nhưng không được sản xuất đủ. Khan hiếm đưa đến hạn chế khẩu phần hoặc đưa đến tình trạng tương đương nổi tiếng ở Moscow: xếp hàng cả ngày trước cửa tiệm.

  Sô Viết đã đánh cuộc với cả nước trên tiền đề là kế hoạch trung ương, thay vì cạnh tranh thả cửa và thị trường tự do, mới đúng là con đường đi đến ích lợi chung. Vì ý nghĩ đó mà tôi mong gặp ông Stepan Sitaryan, cánh tay mặt của xếp của ủy ban kế hoạch quốc gia. Sitaryan là một người nhỏ con với mái tóc bạc trải ngược và nói tiếng Anh khá, ông ta trao tôi cho người phụ tá cao cấp đang phô trương những ma trận với dữ kiện đầu vào-đầu ra đầy đủ chi tiết và những con toán mà ngay cả người tiên phong ra nó cũng dễ lầm lẫn. Người đó là ông Wassily Leontief, một kinh tế gia gốc Nga tốt nghiệp từ Harvard. Quan điểm của ông Leontief là người ta có thể mô tả chính xác một mô hình kinh tế bằng cách sắp đặt những dòng nguyên liệu và lao động chảy qua nó. Nếu làm kỹ, mô hình này có thể là một panô điều khiển máy móc lý tưởng. Trên lý thuyết, nó cho phép tiên đoán mọi ảnh hưởng trên mọi ngành kinh tế khi thay đổi đầu ra. Nhưng các kinh tế gia Tây Âu nghĩ rằng ít ai dùng ma trận này vì nó không phản ảnh cái linh động của nền kinh tế. Trên thực tế, sự liên hệ giữa đầu vào và đầu ra hầu như thay đổi quá nhanh trước khi nó được ước lượng.

  Mô hình đầu vào đầu ra của ủy ban kế hoạch trung ương thật vô cùng phức tạp. Nhưng dựa vào lời bình phẩm của người phụ tá này, tôi không thấy một giới hạn nào của mô hình đã được giải quyết. Tôi hỏi làm sao mô hình để ý được những thay đổi linh động này. Ông phụ tá chỉ nhún vai và lảng qua chuyện khác. Buổi họp bó buộc ông ta phải theo cớ thoái thác là người đặt kế hoạch có thể sắp đặt lịch trình sản xuất và cai quản một kinh tế rộng lớn một cách hữu hiệu hơn là những thị trường tự do. Tôi nghi rằng người phụ tá này thực ra không tin vào điều đó, nhưng tôi không thể nói cảm nghĩ thật sự của ông ta là mỉa mai hay ngờ vực.

  Người ta nghĩ rằng giới thẩm quyền về kế hoạch sáng suốt có thể điều chỉnh tùy theo nhược điểm của mô hình. Những người như Sitaryan đều thông minh và họ đã thử, nhưng họ quá tự tin. Nếu không có những dấu hiệu tức thời báo trước giá hàng thay đổi như trong thị trường tư bản, làm sao ai biết để sản xuất mỗi món hàng bao nhiêu? Không có sự giúp đỡ của một guồng máy đánh giá thị trường thì nền kinh tế tập trung Liên Xô không có tác động phản hồi hữu hiệu để hướng dẫn. Điều quan trọng không kém là người đặt kế hoạch không có tín hiệu về tài chính để điều chỉnh sự phân bố tiền để dành cho những đầu tư sản xuất thật sự cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu thay đổi của dân chúng.

  Chính ra trong những năm trước khi trở thành chủ tịch của Cơ Quan Dự Trữ Liên Bang, tôi đã cố gắng hình dung tôi trong công việc của người đặt kế hoạch trung ương. Từ năm 1983 cho đến 1985, dưới thời Tổng Thống Reagan, tôi làm trong Ủy Ban Cố Vấn Tổng Thống Về Tình Báo Quốc Ngoại với nhiệm vụ xét lại những ước định của Hoa Kỳ về khả năng hấp thu của Liên Xô với gánh nặng leo thang vũ khí. Đây là mối lo âu lớn lao vì chương trình Chiến Tranh Vũ Trụ của Tổng Thống Reagan dựa theo giả thiết là kinh tế Liên Xô không thể sánh nổi với kinh tế Hoa Kỳ. Theo ý tưởng này, tăng cường thi đua vũ khí sẽ làm cho Liên Xô kiệt sức vì cố theo đuổi hoặc họ sẽ xin điều đình; trong cả hai trường hợp, Hoa Kỳ sẽ đưa tay ra và chiến tranh lạnh sẽ chấm dứt.

  Trách nhiệm trao phó quả là quá quan trọng để từ chối, nhưng nó làm tôi rất lo ngại. Học hỏi từng chi tiết một của hệ thống sản xuất và phân phối khác hẳn với hệ thống của mình là một công việc vô cùng to tát. Tuy vậy, chỉ một tuần sau khi bắt tay vào việc, tôi kết luận rằng không có cách nào chính xác để đánh giá kinh tế của họ. Những dữ kiện của Ủy Ban Kế Hoạch Quốc Gia đều không có giá trị; những viên chức Liên Xô từ trên xuống dưới có đủ mọi động cơ để phóng đại sản lượng của hãng và sổ lương nhân công. Tệ hơn nữa, dữ kiện của họ có quá nhiều mâu thuẫn mà tôi không thể giải hòa và tôi nghi rằng họ cũng không thể làm được. Tôi tường trình cho Ủy Ban Cố Vấn và Tổng Thống Reagan rằng tôi không thể tiên đoán là những thử thách của Chương Trình Chiến Tranh Vũ Trụ có làm kinh tế Liên Xô quá tải hay không, và tôi cam đoan là chính Liên Xô cũng không đoán được.

  Dĩ nhiên, như được biết sau đó, Liên Xô đã không thi đua với Hoa Kỳ về Chiến Tranh Vũ Trụ, thay vào đó, Gorbachev bắt đầu những chương trình cải tổ khi ông lên nhậm chức. Tôi không thổ lộ điều này với ai trong Ủy Ban Kế Hoạch Quốc Gia. May là tôi không phải Sitaryan, làm chủ tịch Cơ Quan Dự Trữ Liên Bang đã khó, nhưng làm chủ tịch Ủy Ban Kế Hoạch Quốc Gia là điều không tưởng.

  Buổi gặp gỡ với ông Viktor Gerashchenko, chủ tịch ngân hàng trung ương Sô Viết, không nặng nề như vậy. Theo cấp bậc, ông ta tương đưong với tôi, nhưng trong nền kinh tế tập trung, vì quốc gia quyết định ai được tài trợ, ai không được, ngân hàng đóng vai trò rất nhỏ so với Tây Âu. Ủy Ban Kế Hoạch Quốc Gia hầu như chỉ là người phát lương và giữ sổ sách. Nếu có ai chậm hoặc không trả tiền mượn cũng chẳng ai làm gì được. Tiền cho vay chính ra chỉ là những vụ chuyển tiền giữa các cơ quan thuộc về nhà nước. Ngân hàng chẳng phải để ý đến tiêu chuẩn tín dụng, lãi xuất bấp bênh, hay giá thị trường thay đổi – đó chính là những dấu hiệu tài chính định đoạt ai được tín dụng, ai không được, do đó ai sản xuất những gì, bán cho ai của nền kinh tế thị trường. Tất cả những đầu đề mà tôi nói đến trong buổi tối hôm trước đều không nằm trong thế giới của Ủy Ban Kế Hoạch Quốc Gia.

  Gerashchenko là người sẵn lòng và thân thiện, ông nài nỉ chúng tôi gọi nhau là Viktor và Alan. Ông nói tiếng Anh rất lưu loát, vì từng điều khiển một ngân hàng Sô Viết ở Luân Đôn trong vài năm, ông thông hiểu hệ thống ngân hàng Tây Âu. Giống như nhiều người khác, ông ta làm cho người ta tin rằng Liên Xô không đi sau Hoa Kỳ nhiều. Ông ta tìm tôi và những chủ ngân hàng khác trong thế giới tự do vì ông muốn là một phần của tổ chức ngân hàng trung ương có thanh thế. Theo ý tôi, ông là người vô hại và chúng tôi có một cuộc đàm phán thú vị.

  Chỉ sau đó bốn tuần, vào ngày 9 tháng Mười Một, năm 1989, Bức Tường Bá Linh sụp đổ. Mặc dù tôi đang công tác ở Texas, nhưng như mọi người, tôi dán mắt vào cái màn ảnh nhỏ tối hôm đó. Biến cố này tự nó đã là phi thường, nhưng đối với tôi, điều đáng ngạc nhiên hơn trong những ngày kế tiếp là những đổ nát về kinh tế được phơi bầy sau bức tường sụp đổ đó. Một trong những cuộc tranh luận quan trọng nhất của thế kỷ thứ hai mươi là câu hỏi về chính phủ kiểm soát bao nhiêu thì tốt nhất cho lợi ích chung. Sau Thế Chiến Thứ Hai, các nước dân chủ Châu Âu đều theo chủ nghĩa xã hội và số quốc gia còn lại ngả về chính phủ kiểm soát trung ương, ngay cả Hoa Kỳ - đúng ra, tất cả cố gắng kỹ nghệ Hoa Kỳ trong chiến tranh đều được hoạch định tập trung.

  Đó là hậu cảnh kinh tế của chiến tranh lạnh. Chính ra, nó là cuộc thi thố không những giữa hai ý thức hệ mà còn giữa hai lý thuyết lớn của hệ thống kinh tế: kinh tế thị trường tự do đối với kinh tế tập trung. Và trong bốn mươi năm qua, hai nền kinh tế đó được tưởng như kẻ tám lạng, người nửa cân. Có người tin rằng mặc dù Liên Xô và những đồng minh của họ là những nước lẽo đẽo theo sau về kinh tế, họ sẽ bắt kịp với nền kinh tế thị trường phí phạm của các quốc gia tự do.

  Những cuộc thí nghiệm có kiểm soát hầu như chưa bao giờ xẩy ra trong kinh tế học. Nhưng không ai có thể tạo ra một thí nghiệm nào hay hơn là Đông và Tây Đức, ngay cả trong phòng thí nghiệm. Cả hai quốc gia bắt đầu cùng một văn hoá, ngôn ngữ, lịch sử, và hệ thống giá trị. Rồi trong bốn mươi năm, họ thi đua ở hai bên thái cực của lằn chia cách với rất ít giao dịch thương mại với nhau. Sự khác biệt quan trọng và cũng là đối tượng cho thử thách là hệ thống kinh tế và chính trị của họ: chủ nghĩa tư bản thị trường đối với hoạch định tập trung.

  Nhiều người nghĩ đây là cuộc thi đua sát nút. Dĩ nhiên, Tây Đức là nơi của phép mầu kinh tế hậu chiến, vươn lên từ tro tàn chiến tranh để trở thành một quốc gia dân chủ phồn thịnh nhất Châu Âu. Trong khi đó, Đông Đức trở thành nhà máy phát điện cho cả khối Đông Âu; họ không những là người bạn đồng hành thương mại lớn nhất của Liên Xô mà còn là một quốc gia với tiêu chuẩn đời sống được xem như chỉ là một phần nhỏ khiêm nhường đối với tiêu chuẩn ở Tây Đức.

  Tôi đã so sánh kinh tế Đông va Tây Đức trong khi làm việc cho Ủy Ban Cố Vấn Tổng Thống Về Tình Báo Quốc Ngoại. Các chuyên gia đã ước lượng là tổng sản phẩm quốc nội cho mỗi đầu người của Đông Đức đạt được khoảng 75 cho đến 85 phần trăm của Tây Đức. Tôi nghĩ không thể nào như thế được. Chỉ nhìn vào những toà nhà đổ nát ở bên kia bức tường Bá Linh, ai cũng có thể kết luận là mức độ sản xuất và tiêu chuẩn đời sống bên đó kém xa cái phồn thịnh của Tây Đức. Bức tường sụp đổ phô trương mức độ kinh tế thối nát quá tai hại mà chính người đa nghi cũng phải ngạc nhiên. Về sau mới biết, năng xuất của giới lao động Đông Đức chỉ hơn một phần ba của Tây Đức, không có chuyện 75 đến 85 phần trăm. Điều đó cũng đúng cho tiêu chuẩn đời sống của dân chúng. Cơ xưởng bên Đông Đức sản xuất hàng tồi tệ và những dịch vụ được cai quản quá bất cẩn cho đến độ phải mất hàng trăm tỷ đô la để tân tiến hóa. Ít nhất 40 phần trăm cơ sở thương mại bên Đông Đức đáng nhẽ phải đóng cửa vì quá cũ không thể cứu vãn được và hầu hết các cơ sở còn lại phải mất nhiều năm khôi phục để có thể cạnh tranh. Cả triệu người bị thất nghiệp, họ cần được huấn luyện lại và có công việc mới, nếu không, họ sẽ nhập vào những đoàn người di cư sang Tây Đức. Cái mức độ hủy hoại sau bức màn sắt đã được giữ kín lâu nay, nhưng bây giờ thì không thể dấu diếm được nữa.

  Ít ra, dân Đông Đức còn có thể trông cậy vào sự giúp đỡ của dân Tây Đức. Nhưng ở những nước khác trong khối Sô Viết cùng số phận hẩm hiu hay tệ hơn, dân chúng phải tự lo lấy. Ông Leszek Balcerowicz, nhà cải tổ lớn của Ba Lan, đã bắt chước sách lược của Ludwig Erhard, một nhà cải tổ Tây Đức lừng danh khác trong giai đoạn đồng minh chiếm đóng năm 1948. Ông Erhard bắt đầu làm hồi sinh kinh tế bị tàn phá bằng cách đột ngột ban hành chấm dứt kiểm soát giá cả và sản xuất. Đành rằng ông ta đã vượt khỏi quyền hành của mình lúc ra lệnh đó vào cuối tuần, nhưng khi chính phủ đồng minh phản ứng thì giá cả đã thay đổi hoàn toàn. Bước cờ ban đầu đã xẩy ra như ý muốn và làm ngạc nhiên ngay cả những người chống đối. Những cửa hàng ở Tây Đức trước đây chuyên môn thiếu hụt thực phẩm và hàng hóa, nay thì chan hòa và chợ đen cũng bớt nhiều. Ban đầu giá cả thật là đắt, nhưng sau đó giảm đi vì hàng hóa tràn ngập thị trường.

  Là một giáo sư về kinh tế được đào tạo ở Tây Phương, ông Balcerowicz đi theo gương ông Erhard đề nghị cái mà ông gọi là cuộc cách mạng thị trường. Những người khác thì gọi nó là phép chữa bệnh bằng cơn sốc. Khi Đảng Liên Kết thắng bầu cử vào tháng Tám 1989, nền kinh tế Ba Lan đang trên đà xụp đổ. Thực phẩm khan hiếm cùng với siêu lạm phát đang hủy diệt giá trị đồng tiền của dân chúng, chính phủ thì phá sản và không trả nổi nợ nần. Thể theo lời cầu khẩn của ông Balcerowicz, nội các mới định ngày 1/1/1990 là ngày “nổ lớn” để chấm dứt hầu hết tất cả kiểm soát giá cả. Trước đó vài tuần, tôi gặp ông ta lần đầu ở Basel, Thụy Sỹ trong cuộc họp thế giới về ngân hàng. Ông ta làm tôi ngạc nhiên khi tuyên bố rằng ông ta không biết chiến lược này có thành công không. Nhưng ông ta cũng nói “không ai cải tổ bằng những bước nhỏ”. Ông ta tin tưởng rằng, trong một xã hội mà chính phủ đã từng định đoạt mọi khía cạnh mua và bán trong bốn thập niên, không có chuyện chuyển tiếp dịu dàng từ hoạch định tập trung sang thị trường cạnh tranh. Ông nói cần phải có hành động quyết liệt để thúc đẩy người ta bắt đầu tự quyết định và để họ tin rằng thay đổi là điều không thể tránh được.

  Như đã đoán trước, cái “nổ lớn” của ông Balcerowicz đem lại sự thay đổi khủng khiếp. Giống như đã từng xẩy ra ở Tây Đức cho ông Erhard, giá cả ban đầu tăng vọt và đồng tiền mất mãi lực gần một nửa ngay trong hai tuần đầu. Nhưng hàng hoá bắt đầu xuất hiện trong cửa tiệm và giá cả dần dần cũng quân bình. Balcerowicz cho người theo dõi thường xuyên các cửa tiệm; sau này, ông ta còn nhớ “Đó là một ngày rất quan trọng khi nhân viên của tôi tường trình là giá trứng đang xuống”. Không có một dấu hiện nào hùng hồn hơn chứng tỏ rằng chuyển qua thị trường tự do đã bắt đầu có hiệu lực.

  Sự thành công ở Ba Lan khuyến khích Cộng Hòa Séc thử một cải cách còn táo bạo hơn. Ông Václav Klaus, bộ trưởng kinh tế, muốn đưa các cơ quan nhà nước qua cho hãng tư nhân. Vì trong CH Séc không ai sẵn sàng có nhiều tiền, thay vì bán đấu giá cho các nhóm đầu tư, ông ta đề nghị phân phát quyền sở hữu cho cả toàn dân dưới dạng bông phiếu. Mỗi người dân được nhận phần phiếu đồng đều mà họ có thể đổi, bán, hoặc đổi lấy cổ phiếu trong các cơ quan nhà nước. Theo phương pháp đó, ông Klaus không những muốn đem đến cái “thay đổi cấp tiến của quyền tư hữu” mà còn đặt một nền tảng cho thị trường chứng khoán.

  Ông Klaus đề cập đến điều này và nhiều chương trình tham vọng khác trong bài thuyết trình của ông ở buổi họp Ngân Hàng Liên Bang vào năm 1990 tại Jackson Hole, Wyoming. Tạng người vuông vắn với bộ râu mép rậm, ông ta rất cực kỳ quan tâm đến sự khẩn cấp của cải cách. Ông ta nói “Mất thì giờ là mất tất cả, chúng tôi phải hành động nhanh vì cải cách từ từ sẽ sinh ra những lý do thuận lợi để bào chữa cho các mối lợi riêng tư, những độc quyền thao túng trên mọi lãnh vực, những hưởng lợi chương trình xã hội có tính cách gia trưởng, hoặc không thay đổi gì hết”. Câu nói quá bốc lửa và chắc nịch đến độ mà khi đến lúc hỏi đáp sau đó, tôi có câu hỏi về ảnh hưởng của cải tổ trên việc làm của dân chúng như “Ông có định tạo một lưới an toàn xã hội nào đó cho người thất nghiệp không?”. Ông ta ngắt lời “Chỉ có nước Mỹ mới trả nổi cái xa xỉ phẩm đó thôi”. Ông ta tiếp theo “ Muốn thành công, chúng tôi cần phải đoạn giao hẳn với quá khứ. Thị trường cạnh tranh mới là con đường đưa đến thịnh vượng và đó là mục đích mà chúng tôi sắp tập trung vào.” Chúng tôi trở thành bạn thân sau này, nhưng đó là lần đầu tiên trong đời mà tôi bị mắng khéo là chưa nhận thức đủ cái sức mạnh của thị trường tự do. Đó cũng là một kinh nghiệm hiếm có đối với người từng ngưỡng mộ Ayn Rand*

  Trong lúc các nước Đông Âu đang đua nhau cải tổ thì tình trạng bất ổn ở Moskow càng tệ đi. Thật khó cho các nước dân chủ Tây Phương đoán chuyện gì đang xảy ra. Chỉ một tuần sau khi được bầu làm tổng thống của Cộng Hòa Liên Xô vào tháng Sáu năm 1991, ông Boris Yeltsin sang thăm New York để họp ở Ngân Hàng Liên Bang tại đó. Khởi đầu sự nghiệp bằng nghề làm chủ kỹ nghệ xây dựng và từng là thị trưởng của Moscow trong thập niên 1980, ông ta bỏ Đảng Cộng Sản để theo đuổi mục tiêu cải cách cơ bản. Ông Yeltsin thắng cử với tỷ lệ 60 phần trăm số phiếu trên toàn quốc, đó là một thất bại liểng xiểng đối với chủ nghĩa cộng sản. Mặc dù ông là chân tay của Gorbachev, cái tiếng tăm cộng với tính hung hăng làm cho ông ta như cục nam châm thu hút mọi sự chú ý - như Khrushchev vào thời đại trước, ông là hiện thân của những điều trái ngược đáng quan ngại của xứ sở của ông. Chuyến viếng thăm nước Hoa Kỳ vào năm 1989 là một tai họa – người ta hầu hết nhớ ông ta qua những bản tin tức về hành vi bất thường và say sưa của ông.

  Vị chủ tịch Ngân Hàng Liên Bang tại New York, ông Gerald Corrigan, là người dẫn đầu trong việc khuyến khích giới thương mại Hoa Kỳ liên lạc với các nhà cải tổ Sô Viết, điều mà chính quyền thời Tổng Thống Bush mong đợi xảy ra. Vì thế khi ông Yeltsin đến, Ngân Hàng này mời ông ta đến dự tiệc và nói chuyện với trên năm mươi chủ ngân hàng, các nhà tài chính, và các chủ đại xí nghiệp. Số người tháp tùng ông Yeltsin rất đông, tôi và ông Corrigan có trao đổi vài câu ngắn ngủi trước khi ông ta được giới thiệu với quan khách. Một Yeltsin mọi người gặp tối hôm đó không phải là thằng hề say sưa, đó là một Yeltsin thông minh và quyết trí. Trên bục, ông ta nói rất rành mạch về cải cách trong hai mươi phút mà không cần đọc giấy, rồi sau đó, một mình trả lời những câu hỏi chi tiết liên quan từ quan khách mà không cần tham khảo với những cố vấn của ông.

  Tình thế càng ngày càng trở nên mù mờ việc ông Gorbachev, hay bất cứ người nào, có thể kết thúc chế độ cộng sản mà không tạo ra sự sụp đổ hoàn toàn đi đến bạo động. Sau khi ông Gorbachev giải tán Khối Warsaw vào tháng Sáu và phát động chương trình xây dựng lại Liên Xô như một khối tình nguyện gồm các quốc gia dân chủ, ông ta phải đối diện với sự chống đối tàn bạo ra mặt. Vào tháng Tám, một âm mưu đảo chính bởi những người cực đoan theo chủ nghĩa Lê Nin xuýt nữa lật đổ ông – nhưng theo nhiều người, chính nhờ vào tài đóng kịch kích động của ông Yeltsin leo lên chiếc xe bọc sắt đậu trước cửa quốc hội Sô Viết mà Gorbachev còn sống sót.

  Các nước Tây Phương bắt đầu tìm cách giúp Sô Viết. Vì lý do đó mà Bộ Trưởng Ngân Khố Nick Brady và tôi dẫn một nhóm đi Moscow vào tháng Chín để gặp Gorbachev và họp với những cố vấn kinh tế của ông ta. Sứ mạng hiển nhiên của chúng tôi là ước định những sự sửa đổi nào Liên Xô phải thi hành để họ được nhận vào Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, nhưng chính ra, chúng tôi muốn thấy tận mắt những gì đang xẩy ra.

  Nếu chỉ nói về phương diện kinh tế dưới nhãn quan của Cơ Quan Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ và thế giới Tây Phương, Liên Xô không phải là một vấn đề nan giải. Kinh tế của họ không lớn lắm; dĩ nhiên không có thống kê nào tin tưởng được, nhưng các nhà chuyên môn đoán rằng tổng sản lượng quốc gia của họ cũng ngang hàng với Anh Quốc, hoặc bằng một phần sáu của cả Âu châu. Bức tường sắt đã cô lập Liên Xô quá nhiều cho đến độ phần trao đổi với thế giới bên ngoài quá it ỏi. Số tiền nợ với các quốc gia Tây Phương cũng nhỏ như vậy và có thể bị quịt nếu chính phủ sụp đổ. Nhưng những điều này không quan trọng so với đầu đạn nguyên tử. Chúng tôi biết rất rõ về cái nguy hiểm cho sự ổn định và an toàn của cả thế giới nếu Sô Viết sụp đổ.

  Chỉ một mình lý do này thôi mà chúng tôi kinh hãi bởi cái hình ảnh xẩy ra lúc chúng tôi ở đó.

  Thật là rõ ràng là chính phủ đang tan rã. Tất cả những nền móng của hoạch địng tập trung bắt đầu thất bại và sự an sinh của dân chúng đang bị đe dọa. Ông Eduard Shevardnadze, lúc đó là Bộ Trưởng Ngoại Giao nói với chúng tôi là có nổi loạn ở những nước trong Cộng Hòa Liên Xô dọc theo biên giới Nga Sô và sinh mạng của hai mươi lăm triệu dân thiểu số sống ở nơi đó có thể rơi vào cảnh lâm nguy. Tệ hơn nữa, ông còn nói rằng cái nguy hiểm là Nga Sô và Ukraine, hai nước có đầu đạn nguyên tử Liên Xô, có thể đi đến xích mích với nhau.

  Những dữ kiện về kinh tế thuộc loại chấp vá cũng đáng sợ không kém. Lạm phát không kềm chế nổi với giá cả tăng từ ba đến bẩy phần trăm hàng tuần. Đó là hậu quả của những hệ thống sản xuất và phân phối tập trung đang bị tê liệt và càng ngày người ta càng cần nhiều tiền để chạy theo những món hàng càng ngày càng hiếm hoi. Với cố gắng duy trì tình thế, chính phủ cho in tiền xuốt ngày đêm để làm ngập kinh tế với tiền mặt.

  Ngoài những vấn nạn này, người ta còn bị ám ảnh bởi tình trạng thiếu thực phẩm. Nhiều lần trong quá khứ, Ukraine được mang tiếng là vựa lúa của thế giới. Mặc dù những vụ gặt tương đối vẫn còn chan hòa nhưng vài vụ bị để thối rữa trên những cánh đồng vì không có cách nào thu thập, phân phối nông phẩm và ngũ cốc. Liên Xô phải nhập cảng trên bốn mươi triệu tấn ngũ cốc mỗi năm. Thiếu bánh mì vẫn là điểm nhức nhối trong tâm khảm người Nga – đó là cuộc “nổi loạn bánh mì” năm 1917 khi những bà già ở St. Petersburg đứng lên trong cuộc dấy loạn đưa đến sự sụp đổ của Nga Hoàng.

  Một cuộc đàm thoại nữa cho tôi cái nhìn thoáng qua về kinh tế mong manh này và sự khó khăn để thay đổi nó. Ông, Boris Nemtsov, nhà kinh tế cải cách, thổ lộ: “Để tôi nói cho ông nghe về những thành phố quân sự,” rồi ông kể một loạt những địa danh mà tôi chưa bao giờ nghe đến. Ông ta cắt nghĩa rằng trên cả nước Nga, có ít ra hai mươi thành phố với trên hai triệu dân được xây chung quanh những nhà máy quân sự. Những thành phố này được biệt lập, chuyên môn hóa và không có lý do để hiện hữu nào khác ngoài phục vụ quân đội Liên Xô. Điều muốn nói của ông ta quá hiển nhiên: vì chiến tranh lạnh chấm dứt và chuyển hướng sang kinh tế thị trường, nguyên cả những thành phố và hàng triệu nhân công sẽ bị thất nghiệp và không có gì để xoay sở. Cái bất di bất dịch của nền kinh tế Liên Xô còn quá cực đoan hơn cả những gì tôi từng gặp bên Tây Phương. Một trong những điều quan tâm là những người làm cho quân đội này, gồm những khoa học gia nổi tiếng trên thế giới, kỹ sư, và cán sự, sẽ phải bán tài năng của họ cho các quốc gia nổi loạn để sinh tồn.

  Rồi đến những bản phúc trình khác nữa, nhưng thông điệp thì cũng vẫn vậy. Khi chúng tôi thiết kiến Chủ Tịch Gorbachev và ông ta lập lại mục đích xây dựng lại xứ sở của ông như “một thế lực giao thương quan trọng trên toàn thế giới”, tôi thán phục sự can đảm đó. Nhưng ở bên lề quyển sổ tay, tôi nguyệch ngoạc “Liên Xô là một vở bi kịch Hy Lạp sắp khai màn.”

  Ông Grigory Yavlinsky, nhà kinh tế chính của Hội Đồng Bộ Trưởng dưới quyền Gorbachev dẫn đầu một đại biểu đi Thái Lan để tham dự buổi họp hàng năm của Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế vào tháng Mười năm 1991. Đây quả là giây phút lịch sử vì lần đầu tiên các viên chức Sô Viết cùng ngồi họp với những người làm chính sách kinh tế của thế giới tư bản.

  Liên Xô đã được ban cho quy chế tạm thời – nghĩa là chính thức có quyền tham khảo với Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, nhưng chưa được quyền mượn tiền. Ông Yavlinsky và những người trong đại biểu đến để thuyết phục rằng các nước còn lại của Cộng Hòa Liên Xô đáng nhẽ được hưởng quyền lợi như những thành viên chính thức. Mặc dù Sô Viết cứ khăng khăng là họ có thể tự cai quản sự chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường, nhưng vấn đề bàn luận lúc đó không phải là những món tiền vay khổng lồ từ các nước Tây Phương; tuy thế, không một nước tiền tiến nào trong khối G7 đề xướng.

  Buổi họp kéo dài trọn hai ngày và nếu tôi có phải chọn một chữ để diễn tả cảm tưởng của các chủ ngân hàng trung ương và các bộ trưởng tài chính trong thế giới tự do, chữ đó sẽ là “bất lực.” Chúng tôi biết là những gì còn lại của Liên Xô đều đang sụp đổ; chúng tôi cũng biết quân nhân chưa được trả lương và sự tan rã của quân đội sẽ tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng cho hoà bình thế giới. Chúng tôi cũng rất lo ngại về những điều có thể xẩy ra cho các vũ khí nguyên tử. Đây là sự xuy sụp về nội bộ và chính trị. Tất cả những gì Quỹ Tiền Tệ Thế Giới có thể làm được trong lúc này là bàn bạc về tiền, nhưng nó không phải là vấn đề ở đây. Rốt cuộc, chúng tôi đi đến giai đoạn mà các tổ chức tương tự thường làm trong những tình huống như vậy, đó là trao phó cho một ủy ban để tìm hiểu và bàn luận thêm. Trong trường hợp này, các thứ trưởng tài chính của các quốc gia trong khối G7 sẽ đích thân đi Moscow vài tuần để tham khảo. Do đó, tất cả tùy thuộc vào các người cải cách Liên Xô. Họ phải đối phó với những thử thách còn khó khăn hơn cả những thử thách mà những đồng nghiệp của họ ở những nước Đông Âu từng gặp. Dù trong tình trạng kinh tế khó khăn tương tự, những người lãnh đạo Ba Lan và Cộng Hòa Séc thành công vì họ đã có thể dựa vào yếu tố nhân hòa sau khi được giải thoát khỏi nanh vuốt của Moscow. Trái lại, vì dân Sô Viết đã quá tự hào về cương lĩnh của một quốc gia siêu cường mà họ đã hy sinh rất nhiều để đạt được. Đối với họ, thay đổi đột ngột này không có nghĩa lý gì ngoài cái đau khổ và là một mất mát to lớn cho thanh thế quốc gia. Sự sỉ nhục này làm cho việc cải cách càng khó khăn ra.

  Hơn nữa, bao nhiêu năm đã trôi qua từ năm 1917, rất ít người nào còn sống mà nhớ đến tư sản, hay được đào tạo, hoặc có kinh nghiệm buôn bán. Trong số những người về hưu, không mấy ai làm nghề kế toán, kiểm soát, phân tích tài chính, tiếp thị, hay luật pháp về thương mại. Ở Đông Âu, nơi chủ nghĩa cộng sản thống trị trong bốn mươi năm thay vì tám mươi, thị trường tự do còn có thể hồi phục được; nhưng ở Liên Xô, thị trường này phải được khai quật lên từ cõi ma.

  Gorbachev không ở tại chức được bao nhiêu để cai quản thị trường cải cách; ông ta từ chức vào tháng 12 năm 1991 khi Liên Xô chính thức tan rã và được thay thế bởi một hiệp hội kinh tế lỏng lẻo của các nước cộng hòa trong Liên Xô cũ. “Ngày Tàn Của Liên Xô; Gorbachev, Lãnh Đạo Xô Viết Cuối Cùng Từ Chức; Hoa Kỳ Công Nhận Các Nước Cộng Hòa Độc Lập” là những tít lớn trên báo New York Times ra ngày 26 tháng 12 – tôi nhìn qua và cảm thấy hối tiếc là Ayn Rand không còn sống để chứng kiến. Bà ta và Tổng Thống Reagan là một trong những số người đã tiên đoán hàng chục năm về trước là thế nào Liên Xô cũng sẽ sụp đổ từ bên trong.

  Người Boris Yeltsin chọn để phát động cải cách kinh tế ở Nga Sô là ông Yegor Gaida. Trong thập niên 1980, ông và những nhà kinh tế trẻ tuổi khác đã mơ ước một nền kinh tế thị trường ở Liên Xô, họ đã tưởng tượng và sửa soạn cách chuyển tiếp có hệ thống. Nhưng hiện giờ, trong thời buổi nhiễu nhương càng gia tăng, không ai còn thì giờ nữa, nếu chính phủ không khởi động thị trường, dân chúng có thể chết đói. Vì thế, vào tháng Hai năm 1992, Gaidar, lúc đó làm quyền thủ tướng, bắt chước kế hoạch của Ba Lan, nghĩa là đột ngột chấm dứt kiểm soát gía cả.

  Phép trị liệu bằng cơn sốc làm rung chuyển dân Nga Sô nhiều hơn so với cái chấn động đối với dân Ba Lan. Kích thước rộng lớn của nước Nga, sự khắt khe của hệ thống quản trị, và cái định đoạt giá cả trong xuốt đời người đã làm hại cho chính họ. Lạm phát phi mã quá nhanh cho đến nỗi khi dân chúng nhận được lương, nếu có, số tiền đó trở nên vô giá trị, và tiền dành dụm cỏn con cũng bị cuốn trôi. Đồng tiền mất giá ba phần tư trong vòng bốn tháng. Hàng hoá tiếp tục hiếm hoi trong những cửa tiệm trong khi đó chợ đen thì phát triển.

  Sau đó vào tháng Mười, Yeltsin và các kinh tế gia của ông mở một cuộc cải cách ồ ạt lần thứ nhì: họ phát tem phiếu cho 144 triệu công dân và bắt đầu tư hữu hóa những cơ sở thương mại nhà nước và đất đai trên một kích thước quy mô. Cuộc cải cách này cũng có kết quả kém xa so với Đông Âu. Cả triệu người rốt cuộc có cổ phần trong các cơ sở thương mại hay làm chủ các căn hộ của họ. Đó chính là mục đích, nhưng cũng có cả triệu ngưới khác bị đánh lừa mất cổ phần đó. Tất cả những kỹ nghệ đều bị rơi vào tay một thiểu số lợi dụng thời cơ được gọi là bọn đầu sỏ chính trị. Giống như Jay Gould và vài trọc phú xe hỏa vào thế kỷ thứ 19 ở bên Hoa Kỳ khi họ gây dựng tài sản bằng mánh khoé vận động trợ cấp đất của chính phủ, bọn đầu sỏ này tạo nên một giai cấp giầu có mới tinh và làm cho cái rối rắm chính trị thêm phức tạp.

  Tôi say mê quan sát những sự kiện này xảy ra trước mắt. Nhiều kinh tế gia có kinh nghiệm đáng kể khi theo rõi cách đổi từ kinh tế thị trường sang kinh tế tập trung. Thật vậy, khuynh hướng kinh tế chính của thế kỷ thứ hai mươi là chuyển về chủ nghĩa cộng sản trong các quốc gia ở phương Đông và chủ nghĩa xã hội ở phương Tây. Trước đây mấy năm, ít người chứng kiến sự chuyển hướng theo chiều ngược lại. Cho đến khi bức tường sụp đổ và nhu cầu phát triển kinh tế thị trường từ những đống gạch vụn của các nước kinh tế tập trung Đông Âu trở nên hiển nhiên, ít có kinh tế gia nào bận tâm suy nghĩ về nền móng căn bản của thị trường tự do. Nhưng bây giờ, Nga Sô đang vô tình làm một thí nghiệm cho chúng ta với nhiều bài học đầy ngạc nhiên.

  Trái ngược với những tiên đoán lạc quan của nhiều chính trị gia thiên bảo thủ, sự sụp đổ của kế hoạch tập trung đã không tự động thiết lập chủ nghĩa tư bản. Thị trường trong các nước dân chủ Tây Phương có một nền móng văn minh và hạ tầng cơ sở bao la được phát triển từ nhiều thế hệ. Đó là luật pháp, quy ước, và những nghề nghiệp, thực hành thương mại mà các quốc gia với nền kinh tế tập trung không cần đến.

  Vì bị bó buộc phải thay đổi một sớm một chiều, Nga Sô hoàn thành một hệ thống thị trường chợ đen thay vì tự do. Thị trường chợ đen, với giá cả không được kiểm soát và tự do cạnh tranh, có vẻ giống như lập lại những gì xẩy ra trong kinh tế thị trường. Nhưng chỉ đúng phần nào vì thể chế pháp trị không khuyến khích thị trường chợ đen. Trong nước, chính phủ không có luật pháp để hỗ trợ quyền sở hữu và chuyển nhượng tài sản, không có luật hợp đồng hay phá sản, và không có cơ hội giải quyết tranh tụng bằng tòa án. Quyền tư hữu, một quyền then chốt của nền kinh tế thị trường tự do, hoàn toàn vắng mặt.

  Kết quả là thị trường chợ đen đem lại một số lợi ích đến một xã hội cho phép giao thương. Nếu biết rằng chính phủ sẽ bảo vệ tài sản riêng tư, dân chúng sẽ chấp nhận rủi ro về thương mại, một điều kiện tiên quyết để tạo nên thịnh vượng và phát triển kinh tế. Ít ai chịu may rủi với số vốn của mình nếu phần thưởng tài chính bị chính phủ hay bọn cướp ngày tịch thu một cách vô tội vạ.

  Đó là hình ảnh nước Nga Sô trong giữa thập niên 1980. Đối với những thế hệ con người được nuôi dưỡng trong quan niệm Mác Xít rằng tư sản là ăn cắp, sự chuyển hướng sang kinh tế thị trường đã làm lung lay cái ý thức đúng - sai của họ. Tin cậy vào lời nói của người khác, nhất là người xa lạ, là một yếu tố rõ ràng không có trong nước Nga Sô mới. Mặc dù là điều chủ yếu, đây là khía cạnh ít ai để ý trong thị trường tư bản. Ở Tây Phương, mặc dù mọi người có quyền ra tòa để giải quyết những điều mà họ nghĩ là thiệt thòi, nếu chỉ một phần nhỏ của các hợp đồng bị đưa ra toà xét xử thì các tòa án sẽ bị tràn ngập cho đến độ bị tê liệt. Trong một xã hội tự do, vì cần thiết, đại đa số các thương vụ đều là tự nguyện. Trao đổi tự nguyện bao hàm tín nhiệm. Trong thị trường tài chính Tây Phương, lúc nào tôi cũng thán phục những thương vụ liên quan đến cả trăm triệu Mỹ Kim qua những giao kèo bằng lời nói xuông được xác nhận bằng giấy tờ sau đó, nhiều lúc sau khi giá cả đã thay đổi. Nhưng tin tưởng phải gặt hái được và thanh danh thường là tài sản quan trọng nhất trong buôn bán.

  Sự tan rã của Liên Xô đã chấm dứt một thí nghiệm bao la: về bản chất, cuộc bàn cãi lâu đời giữa những đức tính của nền kinh tế dựa theo thị trường tự do và nền kinh tế được cai quản bởi xã hội chủ nghĩa hoạch định tập trung đã kết thúc. Nói cho chính xác, vẫn còn một số người ủng hộ chủ nghĩa xã hội cũ kỹ, nhưng đại đa số những người theo chủ nghĩa xã hội còn lại hiện giờ đang chủ trương một hình thái thật pha loãng thường được gọi là chủ nghĩa xã hội theo định hướng thị trường.

  Tôi không khẳng định việc cả thế giới đang đi trên con đường chủ nghĩa thị trường tư bản là một hình thức kinh tế và tổ chức xã hội duy nhất và xác đáng. Đa số vẫn cho rằng chủ nghĩa tư bản thiên về duy vật là thoái hóa. Tuy con người theo đuổi sung túc vật chất, nhưng họ lại nghĩ rằng những người quảng cáo và tiếp thị đang thao tác quá độ thị trường cạnh tranh, họ tầm thường hóa cuộc sống bằng cách khuyến khích những giá trị hời hợt và phù du. Do đó, nhiều quốc gia, trong đó có Trung Quốc, đang cố gắng lấn ép những sở thích hiển nhiên của dân chúng bằng cách giới hạn truy cập đến báo chí ngoại quốc mà họ sợ sẽ phá hoại văn hóa quốc gia. Sau cùng, vấn đề còn lại là chủ nghĩa bảo vệ quyền lợi công nghiệp quốc nội ngấm ngầm ở Hoa Kỳ cũng như các quốc gia khác có thể thở thành một trở ngại quan trọng cho giao thương, tài chính quốc tế và chủ nghĩa tư bản thị trường tự do mà nó chống đỡ. Dầu sao đi nữa, bản án về hoạch định tập trung đã được ban ra và nhất định đó là bản án tiêu cực.

  Cymbidium

  *Ayn Rand là một hiền triết gốc Nga, bạn gái rất thân và cũng là người có ảnh hưởng nhiều trên tư duy của ông Greenspan (chú thích của người dịch).